TÓM TẮT
- Thuật ngữ và dụng cụ
Dụng cụ tử cung (IUD) bao gồm dụng cụ tránh thai tử cung (IUC) và hệ thống tử cung (IUS, dành cho các loại dụng cụ chứa progestin). Hiện nay có 4 loại IUD phổ biến trên toàn cầu: một loại chứa đồng (IUD đồng 380 mm2) và ba loại giải phóng progestin levonorgestrel với các liều lượng khác nhau (LNG 52 mg, 19,5 mg hoặc 13,5 mg). Một số loại IUD khác có sẵn tại các khu vực địa lý cụ thể. (Xem thêm ‘Thuật ngữ IUD’ ở dưới.)
- Đối tượng chỉ định
Có rất ít chống chỉ định đối với việc sử dụng IUD. Hầu hết bệnh nhân, bao gồm người chưa sinh con, thanh thiếu niên, phụ nữ vừa sinh hoặc sau sảy thai, người có bệnh lý cấp tính hoặc mạn tính, và/hoặc có nhu cầu tránh thai khẩn cấp đều là đối tượng phù hợp để đặt IUD. (Xem thêm ‘Đối tượng chỉ định, lựa chọn dụng cụ và chống chỉ định’ ở dưới.)
- Thời điểm đặt IUD
IUD có thể được đặt vào bất kỳ thời điểm nào trong chu kỳ kinh nguyệt nếu có thể loại trừ khả năng mang thai dựa trên các tiêu chí trong bảng sau (bảng 1). Khuyến cáo thực hiện xét nghiệm thử thai âm tính trước khi đặt IUD cho hầu hết bệnh nhân, đặc biệt là những người vô kinh do cho con bú hoặc các tình trạng gây chu kỳ kinh không đều (không rõ thời điểm rụng trứng), hoặc những trường hợp tuân thủ biện pháp tránh thai không đảm bảo. (Xem thêm ‘Thời điểm đặt và xét nghiệm thai’ ở dưới.)
- Đặt IUD sau thủ thuật
IUD có thể được đặt ngay sau khi hút/nạo tử cung để đình chỉ thai nghén hoặc sau sảy thai, hoặc sau khi xác nhận thai đã ra hết trong trường hợp phá thai bằng thuốc hoặc sảy thai tự nhiên. (Xem thêm ‘Đặt IUD sau sảy thai (tự nhiên hoặc do can thiệp)’ ở dưới.)
- Đặt IUD sau sinh
IUD có thể được đặt sau sinh thường hoặc sinh mổ. Việc đặt ngay sau khi lấy nhau được ưu tiên hơn vì tỷ lệ khởi đầu và duy trì sử dụng cao hơn, mặc dù tỷ lệ tống xuất (expulsion) cũng cao hơn so với đặt muộn hoặc đặt sau một khoảng thời gian. (Xem thêm ‘Đặt IUD sau sinh’ ở dưới.)
- Tư vấn và sàng lọc nhiễm trùng đường tình dục (STI)
Chúng tôi tư vấn cho tất cả bệnh nhân về nguy cơ nhiễm trùng đường tình dục (STI) và đề xuất sàng lọc tự nguyện bệnh lậu và chlamydia cho mọi đối tượng đến đặt IUD, bất kể yếu tố nguy cơ. Ngoài ra, chúng tôi thực hiện sàng lọc định kỳ theo Khuyến cáo sàng lọc STD & HIV của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC). Nếu không có bằng chứng nhiễm trùng vùng chậu cấp tính, việc sàng lọc STI không nên làm trì hoãn việc đặt IUD. (Xem thêm ‘Nhiễm trùng đường tình dục’ ở dưới.)
- Không chỉ định kháng sinh
Không khuyến cáo sử dụng kháng sinh dự phòng khi đặt IUD, ngay cả đối với bệnh nhân có bệnh lý van tim. (Xem thêm ‘Kháng sinh dự phòng’ ở dưới.)
- Các lựa chọn giảm đau
Trong thực hành lâm sàng, quản lý đau là một quá trình bao gồm tư vấn trước thủ thuật, hỗ trợ trong khi thực hiện, sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và đối với một số bệnh nhân là gây tê cạnh cổ tử cung. Chúng tôi cùng bệnh nhân thảo luận và đưa ra quyết định để lựa chọn phương pháp tiếp cận cá thể hóa. (Xem thêm ‘Tiếp cận giảm đau’ ở dưới.)
- Thuốc chống viêm không steroid (NSAID)
Mặc dù các tài liệu y văn còn nhiều tranh cãi, chúng tôi vẫn chỉ định cho bệnh nhân dùng NSAID (ibuprofen 800 mg hoặc naproxen 550 mg đường uống, tùy vào loại thuốc hiện có và thời gian khởi phát tác dụng) trước hoặc sau khi đặt IUD. Việc sử dụng misoprostol tiền xử lý không làm giảm đau khi đặt. (Xem thêm ‘Tiếp cận giảm đau’ ở dưới.)
- Gây tê cạnh cổ tử cung
Nhìn chung, sau khi thảo luận về lợi ích và nguy cơ trên phương diện lấy bệnh nhân làm trung tâm, nhiều bệnh nhân thường từ chối gây tê cạnh cổ tử cung khi đặt IUD thông thường. Tuy nhiên, gây tê cạnh cổ tử cung có thể mang lại lợi ích cho những bệnh nhân lo ngại nhiều về vấn đề giảm đau, lo âu về thủ thuật, hoặc có tiền sử đặt IUD khó khăn vì bất kỳ lý do nào. (Xem thêm ‘Tiếp cận giảm đau’ ở dưới.)
Các thuốc giảm đau khác đã được đánh giá bao gồm misoprostol, thuốc tê tại chỗ, khí nitrous oxide và an thần tỉnh táo. (Xem thêm ‘Đánh giá các lựa chọn giảm đau’ ở dưới.)
- Dụng cụ đặt IUD
Các dụng cụ cần thiết để đặt IUD thông thường bao gồm: dụng cụ IUD vô trùng đóng gói sẵn, mỏ vịt, kẹp cổ tử cung (tenaculum) một răng, thước đo tử cung (thước kim loại hoặc thay thế bằng ống hút sinh thiết nội mạc tử cung Pipelle 3mm), kéo (ưu tiên loại kéo dài có lưỡi cong), dung dịch sát khuẩn (povidone iodine hoặc chlorhexidine). Lý tưởng nhất là có găng tay vô trùng, mặc dù kỹ thuật “không chạm” (no-touch technique) vẫn có thể chấp nhận được. (Xem thêm ‘Dụng cụ’ ở dưới.)
- Quy trình đặt IUD
Các bước chung cho mọi loại IUD bao gồm: khám vùng chậu, kẹp cổ tử cung và đo chiều sâu buồng tử cung. (Xem thêm ‘Các bước chung khi đặt IUD’ ở dưới.)
Quy trình đặt cụ thể thay đổi tùy theo từng loại dụng cụ. Bác sĩ lâm sàng cần nắm vững các bước thực hiện cụ thể cho từng loại thiết bị. (Xem thêm ‘Các bước đặt cụ thể cho từng loại dụng cụ’ ở dưới.)
- Nong cổ tử cung và hướng dẫn siêu âm
Chúng tôi không điều trị dự phòng thường quy bằng misoprostol trước khi đặt IUD, nhưng phương pháp này có thể hữu ích cho một số đối tượng, chẳng hạn như bệnh nhân hẹp cổ tử cung. Đối với những trường hợp đặt IUD khó hoặc thất bại, việc sử dụng dụng cụ nong cổ tử cung và hướng dẫn siêu âm có thể hỗ trợ quá trình đặt. (Xem thêm ‘Đặt IUD khó’ ở dưới.)
- Tư vấn sau khi đặt
Tư vấn sau khi đặt bao gồm trao đổi về các triệu chứng cần lưu ý và hướng dẫn sử dụng biện pháp tránh thai dự phòng nếu có chỉ định. (Xem thêm ‘Tư vấn sau khi đặt’ ở dưới.)