TÓM TẮT
Định nghĩa – Đau nửa đầu tiền đình là thuật ngữ dùng để mô tả tình trạng chóng mặt kịch phát hoặc các triệu chứng tiền đình khác có liên quan đến đau nửa đầu (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới).
Dịch tễ học – Đau nửa đầu tiền đình là một nguyên nhân phổ biến gây chóng mặt kịch phát. Tương tự như các thể đau nửa đầu khác, bệnh có thể gặp ở cả trẻ em và người lớn, trong đó nữ giới thường có tỷ lệ mắc cao hơn nam giới (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới).
Đặc điểm lâm sàng
- Chóng mặt – Đau nửa đầu tiền đình đặc trưng bởi các đợt chóng mặt tái diễn. Hầu hết các cơn kéo dài từ vài phút đến vài giờ, có thể xuất hiện tự nhiên hoặc do các kích thích thị giác, vận động (ví dụ: ánh sáng huỳnh quang, quan sát đoàn tàu, các họa tiết phức tạp, đám đông). Chóng mặt có thể là cảm giác nội tại (cảm giác sai lệch về sự tự chuyển động) hoặc cảm giác ngoại vi (cảm giác sai lệch rằng môi trường xung quanh đang xoay hoặc trôi) (Xem ‘Chóng mặt kịch phát’ ở dưới).
- Đau đầu – Các cơn đau đầu kiểu migraine thường đi kèm với hầu hết các đợt đau nửa đầu tiền đình. Tuy nhiên, chóng mặt có thể xảy ra mà không có đau đầu (Xem ‘Đau đầu migraine’ ở dưới).
- Triệu chứng giữa các cơn – Bệnh nhân đau nửa đầu tiền đình thường báo cáo tỷ lệ cao các triệu chứng tiền đình nhẹ giữa các đợt cấp. Tình trạng dễ say tàu xe là triệu chứng phổ biến (Xem ‘Triệu chứng giữa các cơn’ ở dưới).
Chẩn đoán – Chẩn đoán đau nửa đầu tiền đình dựa trên lâm sàng đối với những bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán (bảng 2), sau khi đã loại trừ các nguyên nhân khác gây chóng mặt kịch phát (Xem ‘Tiêu chuẩn chẩn đoán’ ở dưới).
Đánh giá chẩn đoán – Hiện không có xét nghiệm đặc hiệu để chẩn đoán đau nửa đầu tiền đình. Chúng tôi thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán để loại trừ các nguyên nhân gây chóng mặt kịch phát khác đối với những bệnh nhân mới khởi phát triệu chứng mà không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán. Ngoài ra, việc đánh giá chẩn đoán là cần thiết đối với những trường hợp có đặc điểm lâm sàng không điển hình (Xem ‘Đánh giá để loại trừ các bệnh lý khác’ ở dưới).
Chẩn đoán hình ảnh thần kinh – Chúng tôi đề nghị chẩn đoán hình ảnh thần kinh để đánh giá cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA) hoặc đột quỵ khi các đợt tiền đình cấp tính mới khởi phát, đi kèm với các dấu hiệu thần kinh bất thường khác khi thăm khám, hoặc xảy ra ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ đột quỵ (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh thần kinh’ ở dưới).
Đo thính lực – Chúng tôi đề nghị đo thính lực cho những bệnh nhân có triệu chứng thính giác rõ rệt hoặc chỉ xuất hiện một bên trong cơn, và những người có triệu chứng kéo dài sau khi cơn chóng mặt đã hết (Xem ‘Đo thính lực’ ở dưới).
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt đau nửa đầu tiền đình bao gồm các rối loạn gây chóng mặt kịch phát (bảng 5). Thường gặp nhất là bệnh Meniere (bảng 4), các thể đau nửa đầu khác, chóng mặt kịch phát lành tính do tư thế (BPPV) và TIA hệ động mạch đốt sống – thân nền (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới).
Điều trị
- Cơn cấp – Đối với hầu hết bệnh nhân có triệu chứng gây tàn phế trong cơn cấp, chúng tôi đề nghị điều trị thử với các thuốc ức chế tiền đình thay vì triptans tại thời điểm khởi phát (Khuyến cáo 2C). Các lựa chọn bao gồm thuốc kháng histamin, thuốc chống nôn hoặc benzodiazepine. Triptans là lựa chọn thay thế hợp lý khi các triệu chứng đau đầu đi kèm với cơn chóng mặt hoặc khi chóng mặt đóng vai trò là tiền triệu (aura) của đau nửa đầu (Xem ‘Điều trị cấp tính’ ở dưới).
- Điều trị dự phòng – Chúng tôi đề nghị điều trị dự phòng cho những bệnh nhân có các đợt đau nửa đầu tiền đình thường xuyên (ví dụ: từ 3 đến 6 lần mỗi tháng hoặc nhiều hơn) hoặc khi điều trị cấp tính không hiệu quả (Khuyến cáo 2B). Đối với hầu hết bệnh nhân, chúng tôi ưu tiên sử dụng thuốc chẹn beta, thuốc chống động kinh hoặc thuốc chống trầm cảm hơn là các thuốc dự phòng đau nửa đầu khác, trừ khi có các bệnh lý đi kèm hoặc chống chỉ định cụ thể. Các lựa chọn bao gồm (xem ‘Thuốc dự phòng đau nửa đầu’ ở dưới):
- Propranolol hoặc metoprolol
- Topiramate, valproate hoặc lamotrigine
- Venlafaxine hoặc amitriptyline