TÓM TẮT
Định nghĩa − Viêm xoang mũi mạn tính (CRS) được định nghĩa là tình trạng viêm tại các xoang cạnh mũi và niêm mạc đường mũi kéo dài từ 12 tuần trở lên, mặc dù đã được điều trị nội khoa. Các tiêu chuẩn chẩn đoán CRS được thảo luận trong một phần riêng biệt. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới và “Viêm xoang mũi mạn tính: Biểu hiện lâm sàng, sinh lý bệnh và chẩn đoán”, phần ‘Chẩn đoán’.)
Vi sinh vật học
- Sự tiến triển của hệ vi khuẩn − Hệ vi sinh vật tiến triển qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn sớm (viêm xoang mũi cấp) thường do nhiễm virus, nhưng một số ít bệnh nhân có thể tiến triển thành nhiễm khuẩn hiếu khí. Trong CRS, theo thời gian, hệ vi khuẩn kỵ khí vùng họng và các vi khuẩn hiếu khí như Staphylococcus aureus sẽ trở nên chiếm ưu thế. (Xem ‘Sự tiến triển của hệ vi khuẩn’ ở dưới.)
- Nấm − Nấm có thể gây viêm xoang mũi dị ứng do nấm, hiện tượng cư trú của nấm trong xoang hoặc viêm xoang do nấm xâm lấn. (Xem ‘Nấm’ ở dưới, “Viêm xoang mũi dị ứng do nấm” và “Viêm xoang do nấm”.)
Liệu pháp kháng khuẩn
- Vai trò của kháng sinh − Kháng sinh không phải là thành phần thường quy trong quản lý CRS và hiện chưa có bằng chứng chất lượng cao hỗ trợ việc sử dụng. Chúng tôi chỉ dự trữ kháng sinh cho các trường hợp CRS trong đợt cấp (ví dụ: triệu chứng trầm trọng hơn đột ngột). Tuy nhiên, một số chuyên gia khác, bao gồm cả các cộng tác viên, cũng sử dụng kháng sinh trong các tình huống nghi ngờ nhiễm trùng và không thể loại trừ, chẳng hạn như CRS không đáp ứng với glucocorticoid tại chỗ trong nhiều tháng. (Xem ‘Vai trò chưa rõ ràng của kháng sinh toàn thân’ ở dưới và “Viêm xoang mũi mạn tính không có polyp mũi: Quản lý và tiên lượng”.)
- Lựa chọn phác đồ kinh nghiệm − Có nhiều phác đồ kháng khuẩn để điều trị các đợt cấp của CRS. Vì hầu hết các trường hợp nhiễm trùng này là đa khuẩn và nhiều trường hợp bao gồm cả vi khuẩn kỵ khí, chúng tôi đề xuất amoxicillin-clavulanate là phác đồ lựa chọn hàng đầu cho hầu hết bệnh nhân (Khuyến cáo 2C). Các lựa chọn thay thế bao gồm đơn trị liệu với clindamycin hoặc phối hợp metronidazole với cephalosporin thế hệ hai hoặc ba, một loại macrolide, hoặc trimethoprim-sulfamethoxazole. (Xem ‘Lựa chọn phác đồ kinh nghiệm’ ở dưới.)
- Điều chỉnh phác đồ theo kết quả nuôi cấy − Cần thực hiện nuôi cấy dịch xoang để đánh giá mức độ phù hợp của phác đồ kinh nghiệm. Chúng tôi mở rộng điều trị để bao phủ các tác nhân gây bệnh đơn lẻ kháng phác đồ kinh nghiệm. Nhìn chung, chúng tôi khuyến cáo không nên thu hẹp phác đồ chỉ để bao phủ các vi sinh vật nuôi cấy được, vì một số vi khuẩn, chẳng hạn như vi khuẩn kỵ khí, có thể khó phân lập (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Điều chỉnh phác đồ theo kết quả nuôi cấy’ ở dưới.)
- Thời gian điều trị − Điều trị cho các đợt cấp của CRS thường kéo dài 7 ngày, nhưng một số trường hợp có thể cần thời gian dài hơn. (Xem ‘Thời gian điều trị’ ở dưới.)