TÓM TẮT
- Giải phẫu và đặc điểm tổn thương – Việc nhận diện và xử trí kịp thời các tổn thương hệ tiết niệu – sinh dục (GU) giúp giảm thiểu các biến chứng liên quan, bao gồm suy giảm chức năng thận cũng như ảnh hưởng đến chức năng bài tiết nước tiểu và chức năng sinh dục. Để gây tổn thương thận cần một lực tác động mạnh, và thường đi kèm với các tổn thương trong ổ bụng. Hệ tiết niệu – sinh dục hiếm khi tổn thương đơn độc. Chi tiết về giải phẫu liên quan, cơ chế và đặc điểm lâm sàng của các tổn thương cụ thể đã được trình bày trong nội dung. (Xem ‘Giải phẫu, sinh lý và cơ chế’ ở dưới, ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới và “Chấn thương bụng kín ở người lớn: Đánh giá và xử trí ban đầu”.)
- Đánh giá – Việc xác định tổn thương dựa trên quy trình đánh giá hệ thống, bao gồm xem xét cơ chế chấn thương, các dấu hiệu khám lâm sàng liên quan, xét nghiệm tìm máu trong nước tiểu và thực hiện các chẩn đoán hình ảnh phù hợp theo đúng trình tự. Cần khám lâm sàng cẩn thận để tránh bỏ sót các tổn thương tiềm ẩn. (Xem ‘Đánh giá và xử trí ban đầu’ ở dưới.)
- Chẩn đoán hình ảnh: Tiếp cận và đường tiết niệu – sinh dục dưới – Tiếp cận chẩn đoán tổn thương hệ tiết niệu – sinh dục theo hướng ngược dòng, bắt đầu từ việc đánh giá cơ quan sinh dục ngoài và niệu đạo trước khi đánh giá bàng quang. Khi nghi ngờ tổn thương niệu đạo, cần thực hiện chụp niệu đạo ngược dòng. Trong các trường hợp đái máu đại thể hoặc gãy khung chậu nguy cơ cao, cần chụp bàng quang ngược dòng hoặc chụp CT bàng quang ngược dòng để đánh giá tổn thương bàng quang. Tạm hoãn các khảo sát này nếu có chỉ định chụp động mạch khung chậu để chẩn đoán hoặc xử trí xuất huyết khung chậu đe dọa tính mạng. (Xem ‘Đánh giá và xử trí ban đầu’ ở dưới và ‘Phân loại và xử trí dứt điểm’ ở dưới.)
- Đánh giá và chẩn đoán hình ảnh đường tiết niệu – sinh dục trên – Đánh giá đường tiết niệu – sinh dục trên (niệu quản và thận) sau khi đã loại trừ tổn thương đường dưới (niệu đạo, bàng quang), hoặc sau khi đã bắt đầu các biện pháp xử trí cấp cứu thích hợp cho tổn thương đường dưới đã xác định. Nghi ngờ tổn thương đường trên và chỉ định chụp CT có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch cho những bệnh nhân đái máu đại thể hoặc đái máu vi thể (≥ 3 đến 5 hồng cầu/vi trường) kèm theo sốc. Thực hiện chụp CT thì muộn (10 phút sau khi tiêm thuốc cản quang) nếu hình ảnh ban đầu không đủ giá trị chẩn đoán trong các trường hợp nghi ngờ tổn thương hệ thống thu thập. (Xem ‘Đánh giá và xử trí ban đầu’ ở dưới.)
- Hội chẩn và chuyển viện – Hầu hết bệnh nhân có tổn thương hệ tiết niệu – sinh dục nghiêm trọng đều cần hội chẩn chuyên khoa tiết niệu khẩn cấp hoặc cấp cứu. Nhiều bệnh nhân có tổn thương phối hợp ngoài hệ tiết niệu, đòi hỏi phải hội chẩn chuyên khoa ngoại. Trong trường hợp không có chuyên gia phù hợp tại chỗ, cần nhanh chóng chuyển bệnh nhân đến trung tâm điều trị tuyến trên sau khi đã đánh giá ban đầu và ổn định tình trạng. KHÔNG được trì hoãn việc chuyển viện để thực hiện các khảo sát hình ảnh đối với bệnh nhân không ổn định về huyết động hoặc có nguy cơ diễn tiến xấu. (Xem ‘Phân loại và xử trí dứt điểm’ ở dưới.)