TÓM TẮT
Mô tả – Bệnh mảnh ghép chống chủ (GVHD) xảy ra sau ghép tế bào tạo máu đồng loài khi các tế bào miễn dịch (mảnh ghép) từ người hiến không tương đồng nhận diện người nhận (vật chủ) là vật thể lạ, từ đó khởi phát phản ứng miễn dịch gây bệnh cho người nhận.
GVHD cấp thường xuất hiện trong vòng 100 ngày sau ghép, trong khi GVHD mạn thường xuất hiện sau 100 ngày; tuy nhiên, hai tình trạng này được phân biệt dựa trên các biểu hiện lâm sàng thay vì thời điểm khởi phát. Ngoài ra, có thể gặp hội chứng chồng lấp với các đặc điểm của cả GVHD cấp và mạn.
Yếu tố nguy cơ – Nguy cơ xảy ra GVHD tăng cao liên quan đến các yếu tố sau:
- Yếu tố chính:
- Sự không tương thích HLA: Mức độ khác biệt về kháng nguyên bạch cầu người (HLA) giữa mảnh ghép và vật chủ.
- Dự phòng: Phác đồ dự phòng GVHD cấp.
- Yếu tố phụ:
- Khác biệt về giới tính: Đặc biệt là trường hợp người hiến nữ và người nhận nam.
- Phác đồ điều kiện: Cường độ của phác đồ điều kiện trước ghép càng cao, nguy cơ càng tăng.
Biểu hiện – Da, gan và đường tiêu hóa là những cơ quan đích chính trong GVHD cấp (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng và mô bệnh học’ ở dưới).
Chẩn đoán – Nghi ngờ GVHD cấp ở bệnh nhân có phát ban, đau bụng/tiêu chảy và bilirubin huyết thanh tăng trong vòng vài tuần sau ghép tế bào tạo máu đồng loài (Xem thêm ‘Chẩn đoán’ ở dưới).
Chẩn đoán GVHD cấp dễ dàng được xác định trên lâm sàng ở những bệnh nhân có phát ban sẩn đỏ đặc trưng (hình 1, hình 2 và hình 3), đau bụng/tiêu chảy và tăng bilirubin.
Xác nhận mô bệnh học ở da hoặc đường tiêu hóa có thể giúp khẳng định chẩn đoán và loại trừ các nguyên nhân khác. Sinh thiết gan qua da tiềm ẩn nguy cơ xuất huyết nghiêm trọng vì hầu hết bệnh nhân đều giảm tiểu cầu tại thời điểm khởi phát; sinh thiết gan qua tĩnh mạch cảnh là lựa chọn thay thế an toàn hơn (Xem thêm ‘Xác nhận mô bệnh học’ ở dưới).
Chẩn đoán phân biệt – Thay đổi tùy theo biểu hiện lâm sàng; hầu hết các chẩn đoán thay thế có thể được loại trừ thông qua sinh thiết mô tổn thương (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới).
Ví dụ bao gồm:
- Phát ban: Phát ban do thuốc, phát ban do virus, hội chứng gắn kết (engraftment syndrome), viêm da do xạ trị.
- Đường tiêu hóa: Các nguyên nhân gây buồn nôn/nôn và tiêu chảy khác, bao gồm nguyên nhân nhiễm trùng (ví dụ: nhiễm Clostridioides difficile, tái hoạt động cytomegalovirus), tác dụng của thuốc, độc tính do hóa-xạ trị, tiêu chảy do viêm, hội chứng ruột ngắn, bệnh loét dạ dày tá tràng.
- Gan: Các nguyên nhân khác (bảng 5) bao gồm hội chứng tắc nghẽn xoang gan (SOS; còn gọi là bệnh tắc tĩnh mạch gan), viêm gan virus, tác động của phác đồ chuẩn bị và độc tính của thuốc; việc chẩn đoán xác định có thể khó khăn nếu không sinh thiết gan.
Phân độ – Các mô hình phân độ mức độ nghiêm trọng của GVHD cấp kết hợp mức độ tổn thương của từng cơ quan để đưa ra phân độ tổng thể, cụ thể như sau (xem ‘Phân độ’ ở dưới):
- Độ I (A) – Nhẹ
- Độ II (B) – Trung bình
- Độ III (C) – Nặng
- Độ IV (D) – Đe dọa tính mạng