Virus viêm gan B: Sàng lọc và chẩn đoán ở người lớn

TÓM TẮT

Tổng quan – Trên toàn thế giới, có khoảng 2 tỷ người có bằng chứng từng nhiễm hoặc đang nhiễm virus viêm gan B (HBV), trong đó có 257 triệu người nhiễm HBV mạn tính. Nhiều bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính không có tiền sử hay dấu hiệu của bệnh lý gan.

Kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) là dấu ấn huyết thanh đặc trưng của nhiễm HBV (cả cấp và mạn tính). Kháng nguyên viêm gan B e (HBeAg) là một protein tiết được chuyển hóa từ protein precore; đây thường được coi là dấu ấn cho sự nhân lên của virus và khả năng lây truyền. Kháng thể kháng lõi viêm gan B (anti-HBc) có thể được phát hiện trong suốt quá trình nhiễm HBV và tồn tại dai dẳng ở những người nhiễm HBV mạn tính hoặc từng nhiễm trong quá khứ. (Xem thêm mục ‘Các dấu ấn huyết thanh’ ở dưới.)

Sàng lọc nhiễm HBV – Đối với người trưởng thành không có tiền sử hoặc dấu hiệu bệnh lý gan, việc sàng lọc đóng vai trò quan trọng để xác định những người nhiễm HBV mạn tính và những đối tượng sẽ có lợi khi tiêm vaccine. Trong một số trường hợp (ví dụ: trước khi điều trị ức chế miễn dịch), sàng lọc cũng giúp xác định những người có nguy cơ tái hoạt hóa tình trạng nhiễm mạn tính hoặc nhiễm đã khỏi.

Đối tượng cần sàng lọc – Với hầu hết người trưởng thành không có yếu tố nguy cơ nhiễm HBV, chúng tôi đề xuất sàng lọc HBV một lần cho những người từ 18 tuổi trở lên (Khuyến cáo 2C). Một ngoại lệ là những người có hồ sơ tiêm đủ phác đồ vaccine viêm gan B và có bằng chứng miễn dịch (anti-HBs ≥ 10 mIU/mL). (Xem thêm mục ‘Những cá nhân không có nguy cơ nhiễm HBV’ ở dưới.)

Đối với những người trưởng thành có nguy cơ nhiễm HBV cao (bảng 1), chúng tôi khuyến cáo nên thực hiện sàng lọc HBV (Khuyến cáo 1B). Ở nhóm đối tượng này, tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính dao động từ khoảng 1% đến 12%, tùy thuộc vào quần thể. Nên lặp lại sàng lọc định kỳ ở những bệnh nhân chưa tiêm vaccine, không có bằng chứng từng nhiễm viêm gan B nhưng vẫn tiếp tục các hành vi làm tăng nguy cơ lây nhiễm, mặc dù phương án ưu tiên vẫn là tiêm vaccine cho những đối tượng này. (Xem thêm mục ‘Những cá nhân có yếu tố nguy cơ nhiễm HBV’ ở dưới.)

Việc sàng lọc trong các trường hợp cụ thể (ví dụ: khi mang thai; trước khi hiến máu, huyết tương, tạng, mô hoặc tinh trùng; trước khi điều trị ức chế miễn dịch; và trước khi điều trị bằng thuốc kháng virus tác động trực tiếp cho viêm gan C) được thảo luận trong các bài tổng quan riêng biệt. (Xem “Tái hoạt hóa virus viêm gan B liên quan đến liệu pháp ức chế miễn dịch”, “Đánh giá và lựa chọn bệnh nhân điều trị kháng virus cho nhiễm virus viêm gan C mạn tính”, phần ‘Đồng nhiễm HBV’“Viêm gan B và thai kỳ”.)

Các xét nghiệm cần chỉ định – Khi sàng lọc HBV, cần xét nghiệm HBsAg, kháng thể bề mặt viêm gan B (anti-HBs) và anti-HBc toàn phần. (Xem thêm mục ‘Các xét nghiệm cần thực hiện’ ở dưới.)

Đánh giá bệnh nhân có dấu hiệu bệnh lý gan – Những người trưởng thành có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lý gan cấp hoặc mạn tính (ví dụ: tăng alanine aminotransferase hoặc aspartate aminotransferase) cần được xét nghiệm nhiễm HBV. Các xét nghiệm bao gồm HBsAg, anti-HBc toàn phần và anti-HBs; đối với những trường hợp biểu hiện bệnh lý gan cấp, cần làm thêm IgM anti-HBc. (Xem thêm mục ‘Người trưởng thành có dấu hiệu bệnh lý gan’‘Thuật toán chẩn đoán’ ở dưới.)

Phiên giải kết quả xét nghiệm huyết thanh:

  • Nhiễm HBV cấp – Chẩn đoán nhiễm HBV cấp dựa trên việc phát hiện HBsAg và IgM anti-HBc (bảng 3A-Bhình 1). (Xem thêm mục ‘Viêm gan cấp’ ở dưới.)
  • Từng nhiễm HBV – Tiền sử nhiễm HBV đặc trưng bởi sự hiện diện của anti-HBs và IgG anti-HBc (hình 1). Điều này khác với tình trạng miễn dịch sau tiêm vaccine, vốn chỉ biểu hiện bằng sự hiện diện của anti-HBs. (Xem thêm mục ‘Tiền sử nhiễm HBV’ ở dưới.)
  • Nhiễm HBV mạn tính – Chẩn đoán nhiễm HBV mạn tính dựa trên sự tồn tại dai dẳng của HBsAg trên 6 tháng (bảng 3A-Bhình 1). (Xem thêm mục ‘Nhiễm HBV mạn tính’ ở dưới.)

    Cần thực hiện xét nghiệm HBeAg và HBV DNA trong huyết thanh ở những bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính để xem xét chỉ định điều trị bằng thuốc kháng virus. (Xem thêm mục ‘Nhiễm HBV mạn tính’‘Ứng dụng lâm sàng’ ở dưới.)

  • Nhiễm HBV tiềm ẩn (Occult HBV infection) – Nhiễm HBV tiềm ẩn được định nghĩa là sự hiện diện của HBV DNA (phát hiện được bằng kỹ thuật PCR) ở những bệnh nhân có kết quả HBsAg âm tính. Những bệnh nhân này được phân loại chi tiết hơn thành nhiễm HBV tiềm ẩn “dương tính huyết thanh” hoặc “âm tính huyết thanh”, tùy thuộc vào kết quả của các dấu ấn HBV khác, phổ biến nhất là anti-HBc. Hầu hết các bệnh nhân này có nồng độ HBV DNA trong huyết thanh rất thấp hoặc không phát hiện được, mặc dù HBV DNA thường được tìm thấy trong gan. (Xem thêm mục ‘Nhiễm HBV tiềm ẩn’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here