Nguy cơ ung thư tiềm tàng
Trong một phân tích gộp các thử nghiệm về thuốc hạ huyết áp, liệu pháp phối hợp thuốc ức chế thụ thể (ARB) và thuốc ức chế men chuyển (ACE) so với đơn trị liệu bằng thuốc ức chế men chuyển cho thấy sự gia tăng đáng kể tỷ lệ mắc ung thư ở 28.168 bệnh nhân từ hai thử nghiệm (2,3% so với 2,0%; tỷ số nguy cơ 1,14; khoảng tin cậy 95% từ 1,02 đến 1,28) 60.
Ngược lại, một phân tích gộp thứ hai bao gồm hai thử nghiệm trên cùng năm thử nghiệm khác đã ghi nhận tỷ lệ mắc ung thư tương đương ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng liệu pháp phối hợp so với đơn trị liệu bằng thuốc ức chế men chuyển (5,33% so với 5,26%) 61. Tuy nhiên, sự không đồng nhất giữa bảy thử nghiệm là đáng kể. Tỷ lệ mắc ung thư có xu hướng cao hơn ở liệu pháp phối hợp trong ba thử nghiệm (với thời gian theo dõi trung bình là 48 tháng) và thấp hơn ở bốn thử nghiệm còn lại (với thời gian theo dõi trung bình là 32 tháng).
Kết luận
Dựa trên các bằng chứng rõ ràng về khả năng gây hại, không nên cân nhắc liệu pháp phối hợp thuốc ức chế men chuyển và ARB trừ khi có bằng chứng thuyết phục về lợi ích lâm sàng mà các phác đồ khác không thể đạt được 67. Các khuyến cáo tương tự cũng áp dụng cho sự kết hợp giữa thuốc ức chế renin trực tiếp với thuốc ức chế men chuyển hoặc ARB 68.
TÓM TẮT
Tổng quan – Các tác dụng phụ xảy ra khi dùng thuốc ức chế men chuyển (ACE) liên quan đến việc giảm hình thành angiotensin II hoặc tăng kinin. Các tác dụng phụ liên quan đến việc giảm hình thành angiotensin II bao gồm hạ huyết áp, tổn thương thận cấp, tăng kali máu và các vấn đề trong thai kỳ. Các tác dụng phụ được cho là liên quan, ít nhất là một phần, đến sự gia tăng kinin bao gồm ho, phù mạch và các phản ứng dạng phản vệ. (Xem ‘Thuốc ức chế men chuyển’ ở dưới.)
Thuốc ức chế thụ thể angiotensin (ARB) liên quan đến tỷ lệ ho và phù mạch thấp hơn nhưng tỷ lệ triệu chứng hạ huyết áp cao hơn. (Xem ‘Thuốc ức chế thụ thể angiotensin (ARB)’ ở dưới.)
Tăng kali máu và tổn thương thận cấp – Tăng kali máu và tổn thương thận có thể đòi hỏi phải ngừng sử dụng thuốc ức chế men chuyển hoặc ARB. Nên cân nhắc ngừng thuốc nếu tình trạng tăng kali máu không thể kiểm soát hoặc nồng độ creatinin huyết thanh tăng hơn 30% so với giá trị nền trong vòng từ 6 đến 8 tuần đầu khi huyết áp đang được hạ xuống. (Xem ‘Giảm mức lọc cầu thận (GFR)’ ở dưới và ‘Tăng kali máu’ ở dưới.)
Ho khan – Tình trạng ho khan xuất hiện ở 5 đến 20% bệnh nhân điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển và khoảng một phần ba số đó ở bệnh nhân điều trị bằng ARB. Hướng xử trí bao gồm giảm liều hoặc ngừng thuốc. Việc tái sử dụng thuốc thường dẫn đến tỷ lệ ho tái phát cao. (Xem ‘Ho’ ở dưới và ‘Tỷ lệ ho với thuốc ức chế thụ thể (ARB)’ ở dưới.)
Phù mạch – Phù mạch là một biến chứng hiếm gặp nhưng có khả năng gây tử vong của thuốc ức chế men chuyển. Phù mạch cũng có thể xảy ra khi dùng ARB, nhưng nguy cơ thấp hơn. (Xem ‘Phù mạch và phản ứng dạng phản vệ’ ở dưới và ‘Phù mạch’ ở dưới.)
Tránh liệu pháp phối hợp thuốc ức chế men chuyển và ARB – Bệnh nhân đang sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và ARB có nguy cơ cao gặp phải các tác dụng bất lợi. Do đó, liệu pháp phối hợp này không nên được cân nhắc trong điều trị tăng huyết áp hoặc các rối loạn khác trừ khi có bằng chứng lợi ích thuyết phục. (Xem ‘Phối hợp thuốc ức chế men chuyển và ARB’ ở dưới.)
Lưu ý trong thai kỳ – Thuốc ức chế men chuyển và ARB chống chỉ định đối với phụ nữ mang thai. (Xem ‘Tránh sử dụng trong thai kỳ’ ở dưới.)