Khả năng sinh sản và thai kỳ sau phẫu thuật giảm béo

TÓM TẮT

  • Ý nghĩa lâm sàng đối với nữ giới – Hơn 80% các ca phẫu thuật điều trị béo phì được thực hiện ở nữ giới và khoảng một nửa trong số đó nằm trong độ tuổi sinh sản. Việc xác định chính xác phương pháp phẫu thuật mà bệnh nhân đã thực hiện (bảng 1) là rất quan trọng để bác sĩ lâm sàng có thể tư vấn phòng ngừa và quản lý các biến chứng cũng như các vấn đề về sinh sản (Xem mục ‘Phẫu thuật điều trị béo phì’ ở dưới).

  • Kế hoạch mang thai hoặc lựa chọn biện pháp tránh thai – Cần thảo luận về kế hoạch mang thai và các lựa chọn tránh thai cho phụ nữ sau phẫu thuật điều trị béo phì. Khả năng sinh sản thường cải thiện nhanh chóng sau phẫu thuật, đặc biệt ở những phụ nữ trước đó không rụng trứng (Xem mục ‘Khả năng sinh sản trước và sau phẫu thuật’ ở dưới).

  • Hiệu quả của thuốc tránh thai đường uống – Thuốc tránh thai đường uống có thể giảm hiệu quả ở những phụ nữ thực hiện phẫu thuật điều trị béo phì theo cơ chế kém hấp thu. Đối với những bệnh nhân này nếu có nhu cầu tránh thai bằng hormone, chúng tôi khuyên nên sử dụng các hình thức tránh thai không qua đường uống (Xem mục ‘Tránh thai’ ở dưới).

  • Thời điểm mang thai – Chúng tôi khuyến nghị nên trì hoãn việc mang thai trong 12 tháng sau phẫu thuật điều trị béo phì (Khuyến cáo 2C). Khoảng thời gian này giúp tối ưu hóa việc giảm cân và hạn chế các tác động bất lợi do thiếu hụt dinh dưỡng. Tuy nhiên, đối với những phụ nữ thụ thai ngay sau phẫu thuật, cần trấn an họ rằng kết quả thai kỳ vẫn có khả năng thuận lợi nếu được tối ưu hóa dinh dưỡng, theo dõi và quản lý chặt chẽ (Xem mục ‘Thời điểm thụ thai sau phẫu thuật’ ở dưới).

  • Tác động của phẫu thuật điều trị béo phì đối với thai kỳ và kết cục – Sau phẫu thuật điều trị béo phì, nhiều phụ nữ có thai kỳ không gặp biến chứng và sinh con khỏe mạnh, đặc biệt là khi đạt được chỉ số khối cơ thể (BMI) bình thường.

  • Các kết cục cải thiện hoặc không thay đổi – Phẫu thuật điều trị béo phì có khả năng làm giảm nguy cơ tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ và thai to so với những phụ nữ béo phì không phẫu thuật. Nguy cơ sinh non tự nhiên, sinh mổ và dị tật bẩm sinh dường như tương đương hoặc thấp hơn so với nhóm béo phì không phẫu thuật, mặc dù dữ liệu về các kết cục này ít nhất quán hơn (Xem mục ‘Kết cục thai kỳ’ ở dưới).

  • Tăng nguy cơ hạn chế tăng trưởng thai nhi – Phẫu thuật điều trị béo phì có thể làm tăng nguy cơ hạn chế tăng trưởng trong tử cung hoặc trẻ sinh ra nhỏ hơn so với tuổi thai, đặc biệt là ở những phụ nữ thực hiện phẫu thuật nối tắt dạ dày (gastric bypass). Vì lý do này, chúng tôi thực hiện siêu âm định kỳ trong tam cá nguyệt thứ ba để đánh giá sự phát triển của thai nhi (Xem mục ‘Hạn chế tăng trưởng thai nhi’‘Đánh giá tăng trưởng thai nhi’ ở dưới).

  • Thay đổi trong chăm sóc tiền sản – Chúng tôi chuyển bệnh nhân đã phẫu thuật điều trị béo phì đến gặp chuyên gia y học bào thai (maternal-fetal medicine clinician) để tư vấn trước thụ thai hoặc trong thời kỳ mang thai nhằm thảo luận về các vấn đề tiềm ẩn và phương án quản lý.

  • Bổ sung và xét nghiệm vi chất dinh dưỡng – Chúng tôi khuyến cáo bổ sung vi chất và theo dõi xét nghiệm để phát hiện thiếu hụt vi chất trong các thai kỳ sau bất kỳ phương pháp phẫu thuật điều trị béo phì nào. Quá trình này nên được phối hợp quản lý giữa bác sĩ sản khoa, phẫu thuật viên điều trị béo phì và chuyên gia dinh dưỡng (Xem mục ‘Bổ sung vi chất dinh dưỡng’ ở dưới và “Phẫu thuật điều trị béo phì: Quản lý dinh dưỡng sau phẫu thuật”, phần ‘Quản lý vi chất dinh dưỡng’).

  • Xét nghiệm đái tháo đường thai kỳ và tăng cân – Bệnh nhân đã phẫu thuật nối tắt dạ dày kiểu Roux-en-Y (RYGB) không nên thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose 50 g để sàng lọc đái tháo đường thai kỳ (GDM), vì có thể gây ra hội chứng Dumping. Ngoại lệ có thể áp dụng nếu bệnh nhân thường xuyên uống nước ngọt có đường. Thay vào đó, chúng tôi đề xuất theo dõi đường huyết lúc đói và sau ăn trong một tuần như một phương pháp sàng lọc thay thế (Xem mục ‘Đái tháo đường thai kỳ’ ở dưới).

    Đối với bệnh nhân đặt đai thắt dạ dày điều chỉnh được, đai có thể được nới lỏng để hỗ trợ tăng cân thai kỳ hợp lý (Xem mục ‘Tăng cân thai kỳ’ ở dưới).

  • Lo ngại về biến chứng – Đối với phụ nữ có biểu hiện đau bụng hoặc các triệu chứng tiêu hóa khác, cần loại trừ khả năng biến chứng sau phẫu thuật điều trị béo phì như tắc ruột, xoắn ruột hoặc lồng ruột. Chúng tôi khuyến cáo nên chỉ định chụp cắt lớp vi tính (CT) bụng sớm để đánh giá và hội chẩn kịp thời với phẫu thuật viên điều trị béo phì. Phẫu thuật thăm dò có thể cần thiết ngay cả khi kết quả CT âm tính (Xem mục ‘Theo dõi biến chứng của phẫu thuật điều trị béo phì’ ở dưới).

  • Phương thức sinh – Sinh mổ được chỉ định theo các tiêu chuẩn sản khoa thông thường (Xem mục ‘Phương thức sinh’ ở dưới).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here