Tiếp cận thủ thuật cắt tầng sinh môn

TÓM TẮT

  • Định nghĩa và cơ sở:

    Cắt tầng sinh môn là thủ thuật rạch vùng tầng sinh môn để mở rộng phần sau của âm đạo trong giai đoạn cuối của giai đoạn 2 chuyển dạ, nhằm mở rộng lối ra của thai nhi và hỗ trợ quá trình sinh ngả âm đạo. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)

  • Chỉ chỉ định chọn lọc:

    Đối với phụ nữ sinh ngả âm đạo, chúng tôi khuyến cáo không thực hiện cắt tầng sinh môn thường quy (Khuyến cáo 1B). Việc cắt tầng sinh môn thường quy làm tăng tỷ lệ chấn thương tầng sinh môn nghiêm trọng và các biến chứng vết mổ so với việc chỉ định hạn chế. Quyết định cắt tầng sinh môn cần được xem xét trên từng trường hợp cụ thể thay vì thực hiện một cách đại trà. (Xem ‘Thiếu lợi ích của việc cắt tầng sinh môn’ ở dưới.)

  • Các chỉ định tiềm năng:

    Không có tình huống cụ thể nào bắt buộc phải cắt tầng sinh môn; tuy nhiên, thủ thuật này có thể hữu ích trong các trường hợp cần đẩy nhanh tiến trình sinh ngả âm đạo, sinh giúp bằng dụng cụ, hoặc khi gặp tình trạng kẹt vai. Việc quyết định thực hiện cắt tầng sinh môn phụ thuộc nhiều vào đánh giá của bác sĩ lâm sàng dựa trên tình huống cụ thể tại thời điểm sinh. (Xem ‘Khi nào nên cân nhắc cắt tầng sinh môn’ ở dưới.)

  • Lựa chọn kỹ thuật:

    Khi có chỉ định cắt tầng sinh môn, chúng tôi đề xuất thực hiện đường rạch trung tâm-bên hoặc đường rạch bên (Khuyến cáo 2C). Cắt tầng sinh môn đường trung tâm-bên và đường bên không làm tăng nguy cơ rách cơ thắt hậu môn (tức là tổn thương sản khoa độ 3 hoặc độ 4) như đường rạch chính giữa. (Xem ‘Cắt tầng sinh môn đường chính giữa, trung tâm-bên và đường bên’ ở dưới.)

  • Kỹ thuật thực hiện:

    Khi quyết định cắt tầng sinh môn, cần có sự đồng ý của bệnh nhân, đảm bảo gây tê đầy đủ và bác sĩ phải bảo vệ da đầu thai nhi trước khi rạch. Chỉ định và loại đường rạch thực hiện phải được ghi chép đầy đủ trong hồ sơ sinh. (Xem ‘Thực hiện cắt tầng sinh môn’ ở dưới.)

    • Đối với đường rạch chính giữa, tầng sinh môn được rạch theo chiều dọc trong vòng 3 mm tính từ đường giữa, hoặc tại vị trí 6 giờ của cửa mình. (Xem ‘Mô tả quy trình’ ở dưới.)
    • Đối với đường rạch trung tâm-bên, đường rạch được thực hiện tại cửa mình theo hướng xéo, lý tưởng nhất là một góc 60 độ. (Xem ‘Mô tả quy trình’ ở dưới.)
    • Đối với đường rạch bên, đường rạch được thực hiện tại vị trí 4-5 giờ hoặc 7-8 giờ, lý tưởng nhất là một góc 60 độ. (Xem ‘Khác’ ở dưới.)
  • Biến chứng:

    Các biến chứng thường gặp của cắt tầng sinh môn bao gồm vết rạch lan rộng vào tầng sinh môn hoặc phức hợp cơ thắt hậu môn (tức là tổn thương cơ thắt hậu môn sản khoa), nhiễm trùng, đau sau sinh và đau khi giao hợp. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)

    Việc thực hiện cắt tầng sinh môn trong lần sinh ngả âm đạo đầu tiên dường như làm tăng nguy cơ rách tầng sinh môn nghiêm trọng trong những lần sinh sau. (Xem ‘Tác động đến những lần sinh sau’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here