Tổng quan về các tân sinh tủy tăng sinh

TÓM TẮT

Mô tả – Tân sinh tủy tăng sinh (MPN) là các rối loạn tế bào gốc tạo máu dòng vô tính, đặc trưng bởi sự tăng sinh của một hoặc nhiều dòng tủy, tăng tế bào máu ngoại vi với quá trình trưởng thành hiệu quả, tăng sinh tủy/xơ tủy và lách to (bảng 1).

Bốn loại MPN điển hình bao gồm: bạch cầu mạn dòng tủy, đa hồng cầu nguyên phát, tăng tiểu cầu tiên phát và xơ tủy nguyên phát. Các loại MPN khác bao gồm: bạch cầu mạn dòng ưa acid, bạch cầu mạn dòng trung tính và tân sinh tủy tăng sinh không phân loại.

Biến chứng – MPN liên quan đến các nguy cơ khác nhau về biến chứng huyết khối – xuất huyết, tiến triển thành bạch cầu cấp, và suy tủy do xơ tủy và/hoặc tạo máu không hiệu quả. (Xem mục ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Di truyền – Bạch cầu mạn dòng tủy liên quan đến nhiễm sắc thể Philadelphia (Ph), một chuyển đoạn tương hỗ mắc phải giữa nhiễm sắc thể 9 và 22.

Hầu hết các MPN khác (tức là các MPN âm tính với Ph) liên quan đến các đột biến mắc phải ở các gene JAK2, CALR, hoặc MPL. Các đột biến khác có thể hiện diện, nhưng chưa rõ liệu chúng là tác nhân gây ung thư, hệ quả của tình trạng mất ổn định bộ gene, và/hoặc liên quan đến tạo máu vô tính tiềm năng không xác định (CHIP). (Xem mục ‘Đột biến trong PV, ET và PMF’ ở dưới.)

Bạch cầu mạn dòng tủy (CML) – Các tế bào dòng hạt là thành phần tăng sinh chủ yếu. CML đặc trưng bởi chuyển đoạn t(9;22), tạo ra sự sắp xếp lại BCR::ABL1 mã hóa cho tyrosine kinase BCR::ABL1 hoạt động liên tục.

Hầu hết các trường hợp CML khởi phát ở giai đoạn mạn (CP) tương đối tiến triển chậm; một số bệnh nhân khởi phát ở giai đoạn tiến triển (giai đoạn tăng tốc [AP] hoặc cơn bùng phát blast [BC]), đặc trưng bởi tỷ lệ blast tăng dần kèm theo các triệu chứng toàn thân và/hoặc lách to tiến triển. Hầu hết các trường hợp bệnh tiến triển là do sự chuyển giai đoạn từ CP CML trong quá trình điều trị bằng thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI) BCR::ABL1. (Xem “Bạch cầu mạn dòng tủy: Bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”.)

Đa hồng cầu nguyên phát (PV) – PV đặc trưng bởi sự tăng sinh hồng cầu. Hầu hết tất cả bệnh nhân đều mang đột biến JAK2 V617F, một đột biến chức năng tăng (gain-of-function) soma (bảng 3).

Đa số các trường hợp khởi phát ở giai đoạn đa hồng cầu với nồng độ hemoglobin/hematocrit tăng cao. Một số bệnh nhân khởi phát ở giai đoạn kiệt quệ (spent phase), có giảm các dòng tế bào máu (bao gồm cả thiếu máu) đi kèm với xơ tủy sau đa hồng cầu, tạo máu không hiệu quả và lách to tăng dần. (Xem “Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán đa hồng cầu nguyên phát”.)

Xơ tủy nguyên phát (PMF) – PMF đặc trưng bởi sự tăng sinh bất thường của các tế bào mẫu tiểu cầu và tế bào dòng hạt trong tủy xương, hình ảnh máu leukoerythroblastic, lách to và xơ tủy. (Xem “Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán xơ tủy nguyên phát”.)

Giai đoạn tiền xơ của PMF (bảng 4) có thể xuất hiện trước giai đoạn xơ (bảng 5), giai đoạn này liên quan đến xơ tủy và tạo máu ngoài tủy. (Xem “Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán xơ tủy nguyên phát”.)

Tăng tiểu cầu tiên phát (ET) – ET biểu hiện bằng tình trạng tăng tiểu cầu kéo dài với sự tăng sinh tế bào mẫu tiểu cầu.

ET là một chẩn đoán loại trừ, dành cho tình trạng tăng tiểu cầu vô tính tự trị không thể phân loại là PV, PMF, CML hoặc hội chứng rối loạn sinh tủy (MDS) (bảng 6). (Xem “Tăng tiểu cầu tiên phát: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here