TÓM TẮT
Dịch tễ học và tác động: Gãy cổ xương đùi rất phổ biến ở người cao tuổi, mặc dù tỉ lệ mắc đã giảm trong vài thập kỷ qua. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm loãng xương và té ngã. Gãy cổ xương đùi liên quan đến nguy cơ tử vong và các bệnh suất nghiêm trọng đáng kể ở người cao tuổi. (Xem mục ‘Dịch tễ học’, ‘Bệnh suất và tử suất’ và ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
Chỉ định phẫu thuật: Phẫu thuật kết hợp xương được chỉ định cho hầu hết bệnh nhân gãy cổ xương đùi. Điều trị bảo tồn có thể được cân nhắc đối với bệnh nhân suy kiệt nghiêm trọng, không thể vận động trước khi chấn thương, hoặc tiên lượng sống rất hạn chế do các bệnh lý nền nặng nề. (Xem mục ‘Chỉ định phẫu thuật’ ở dưới.)
Thời điểm phẫu thuật: Chúng tôi thực hiện phẫu thuật gãy cổ xương đùi trong vòng 24 giờ kể từ khi nhập viện đối với những bệnh nhân ổn định về mặt y khoa và không có bệnh lý đồng mắc đáng kể. Đối với những bệnh nhân cần ổn định bệnh lý đồng mắc (ví dụ: đau thắt ngực không ổn định, suy tim hoặc bệnh phổi tắc nghẽn chưa được kiểm soát tốt), chúng tôi đề nghị tiến hành phẫu thuật trong vòng 72 giờ thay vì phẫu thuật ngay lập tức hoặc trì hoãn thêm để tối ưu hóa sâu hơn (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, nếu tình trạng bệnh nhân không ổn định trong khung thời gian này, việc trì hoãn phẫu thuật quá 72 giờ có thể là cần thiết. (Xem mục ‘Thời điểm can thiệp phẫu thuật’ ở dưới.)
Kiểm soát đau: Kiểm soát đau được chỉ định cho tất cả bệnh nhân. Việc sử dụng chiến lược giảm đau đa mô thức bao gồm các thuốc không thuộc nhóm opioid (ví dụ: acetaminophen), gây tê trục thần kinh và phong bế thần kinh ngoại vi (nếu có thể) có thể giúp giảm nhu cầu sử dụng opioid. Đối với bệnh nhân cần dùng opioid, liều khởi đầu thấp hơn có thể phù hợp vì người cao tuổi thường nhạy cảm với opioid hơn so với người trẻ tuổi. (Xem mục ‘Giảm đau’, ‘Kiểm soát đau’ và “Gây tê trong chấn thương chỉnh hình”, mục ‘Gãy cổ xương đùi’.)
Điều trị loãng xương: Tất cả bệnh nhân gãy cổ xương đùi cần được điều trị loãng xương nếu có. Bệnh nhân gãy xương do giòn xương nên được đánh giá bằng đo mật độ xương để thiết lập chỉ số cơ bản nhằm theo dõi đáp ứng điều trị. Việc điều trị loãng xương ở bệnh nhân gãy cổ xương đùi tương tự như các bệnh nhân loãng xương khác. (Xem mục ‘Đánh giá và điều trị loãng xương’ ở dưới, “Tổng quan về quản lý tình trạng giảm mật độ xương và loãng xương ở phụ nữ mãn kinh” và “Điều trị loãng xương ở nam giới”.)
Quản lý bổ sung cho bệnh nhân phẫu thuật: Các khía cạnh khác trong quản lý y khoa cho bệnh nhân gãy cổ xương đùi bao gồm phòng ngừa táo bón, dinh dưỡng, phòng ngừa loét do tì đè, quản lý đặt ống thông tiểu và truyền máu khi cần thiết. Ngoài ra:
- Bệnh nhân gãy cổ xương đùi có nguy cơ cao gặp thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Quyết định sử dụng biện pháp dự phòng huyết khối tĩnh mạch bằng thuốc hoặc cơ học phụ thuộc vào nguy cơ chảy máu cụ thể của từng bệnh nhân. (Xem “Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở người lớn phẫu thuật kết hợp xương gãy cổ xương đùi hoặc thay khớp háng, khớp gối”.)
- Kháng sinh dự phòng được chỉ định để ngăn ngừa nhiễm trùng vết mổ ở bệnh nhân phẫu thuật gãy cổ xương đùi. (Xem mục ‘Dự phòng nhiễm trùng’ ở dưới và “Kháng sinh dự phòng trong ngăn ngừa nhiễm trùng vết mổ ở người lớn”.)
- Bệnh nhân gãy cổ xương đùi có nguy cơ cao bị mê sảng sau phẫu thuật. Việc dự phòng và điều trị mê sảng tương tự như các bệnh nhân nhập viện khác. (Xem mục ‘Dự phòng mê sảng’ ở dưới và “Mê sảng và trạng thái lú lẫn cấp: Dự phòng, điều trị và tiên lượng”.)
- Đối với bệnh nhân bị thiếu máu trong bối cảnh phẫu thuật gãy cổ xương đùi, chúng tôi đề nghị sử dụng chiến lược truyền máu hạn chế thay vì truyền máu thoáng (Khuyến cáo 2B). Trong các thử nghiệm lâm sàng, phương pháp này giúp giảm đáng kể số ca truyền máu và không ảnh hưởng rõ rệt đến tỉ lệ tử vong hoặc các biến cố bất lợi nghiêm trọng khác. Ngưỡng hemoglobin phổ biến nhất được sử dụng trong các thử nghiệm này là 8 g/dL.