TÓM TẮT
Biến chứng màng ngoài tim sau nhồi máu cơ tim (NMCT) – Sau nhồi máu cơ tim, bệnh nhân có nguy cơ gặp nhiều biến chứng tim mạch, trong đó bao gồm ba biến chứng màng ngoài tim: viêm màng ngoài tim quanh vùng nhồi máu (PIP), tràn dịch màng ngoài tim sau NMCT và hội chứng sau tổn thương tim (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ ở dưới).
Viêm màng ngoài tim quanh vùng nhồi máu (PIP)
Đặc điểm lâm sàng – PIP thường xuất hiện sớm sau NMCT, diễn tiến thoáng qua và tự giới hạn. Tiếng cọ màng ngoài tim là dấu hiệu chẩn đoán xác định PIP, bên cạnh đó tình trạng đau ngực kiểu màng phổi cũng phù hợp với chẩn đoán này. Khác với viêm màng ngoài tim cấp trong các bệnh cảnh khác, các thay đổi trên điện tâm đồ (ECG) ở bệnh nhân nghi ngờ PIP có thể ít điển hình hơn do bị biến đổi bởi chính các thay đổi do NMCT gây ra (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán PIP’ ở dưới).
Xử trí – Đối với bệnh nhân PIP (thường tự giới hạn), hướng tiếp cận của chúng tôi là tránh sử dụng các thuốc kháng viêm trong vòng 7 đến 10 ngày sau NMCT cấp (ngoại trừ aspirin liều một lần mỗi ngày được chỉ định để dự phòng thứ phát sau NMCT). Acetaminophen được khuyến cáo để giảm đau. Đối với những bệnh nhân có triệu chứng cần điều trị kháng viêm sớm, hoặc bệnh nhân vẫn còn triệu chứng sau 7 đến 10 ngày đầu, chúng tôi khuyến cáo sử dụng aspirin liều cao thay vì các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) khác hoặc glucocorticoid (Khuyến cáo 1B). Hiện chưa có đủ bằng chứng để khuyến cáo sử dụng colchicine trên nhóm đối tượng này (Xem thêm phần ‘Xử trí PIP’ ở dưới).
Tràn dịch màng ngoài tim sau NMCT
Đặc điểm lâm sàng – Tràn dịch màng ngoài tim thường gặp trong giai đoạn sớm của NMCT xuyên thành. Bệnh nhân tràn dịch màng ngoài tim sau NMCT thường không có triệu chứng và lượng dịch tích tụ thường tự giới hạn. Tuy nhiên, nếu dịch màng ngoài tim tiếp tục tích tụ khiến áp lực trong khoang màng ngoài tim tăng cao, các dấu hiệu và triệu chứng của chèn ép tim cấp có thể xuất hiện. Tất cả bệnh nhân nghi ngờ chèn ép tim cấp cần được siêu âm tim để đánh giá sự hiện diện và tác động huyết động của tràn dịch màng ngoài tim (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới và mục “Chèn ép tim cấp”).
Xử trí – Việc xử trí tối ưu tràn dịch màng ngoài tim sau NMCT tùy thuộc vào nguyên nhân gây tràn dịch cũng như sự hiện diện của các triệu chứng liên quan (Xem thêm phần ‘Xử trí tràn dịch màng ngoài tim sau NMCT’ ở dưới).
- Đối với bệnh nhân tràn dịch màng ngoài tim nghi do biến chứng cơ học (ví dụ: vỡ thành tự do), cần phẫu thuật cấp cứu kịp thời để có cơ hội sống sót (Xem mục “Nhồi máu cơ tim cấp: Biến chứng cơ học”, phần ‘Xử trí’).
- Đối với bệnh nhân tràn dịch màng ngoài tim không nghi do biến chứng cơ học nhưng có triệu chứng chèn ép tim cấp, điều trị dứt điểm đòi hỏi phải dẫn lưu dịch màng ngoài tim, thường được thực hiện qua đường chọc hút dưới hướng dẫn của hình ảnh (Xem mục “Tràn dịch màng ngoài tim: Tiếp cận xử trí”).
- Đối với bệnh nhân tràn dịch màng ngoài tim tình cờ phát hiện, không nghi do biến chứng cơ học và không có dấu hiệu chèn ép tim cấp thì không cần điều trị đặc hiệu.
Hội chứng sau tổn thương tim – Hội chứng sau tổn thương tim là thuật ngữ chung cho nhiều thể viêm màng ngoài tim liên quan; khi xảy ra sau NMCT cấp, hội chứng này được gọi là hội chứng sau NMCT hoặc hội chứng Dressler. Hội chứng sau NMCT thường có thời gian ủ bệnh dài hơn so với PIP và được cho là do trung gian miễn dịch. Bệnh nhân biểu hiện các dấu hiệu và triệu chứng tương tự như viêm màng ngoài tim cấp và/hoặc tràn dịch màng ngoài tim trong các bệnh cảnh lâm sàng khác (Xem mục “Hội chứng sau tổn thương tim”).