TÓM TẮT
Đặc điểm đĩa thị bình thường – Đầu dây thần kinh thị (đĩa thị) bình thường thường có hình tròn hoặc hình oval, màu hồng; bề mặt thường phẳng hoặc hơi gồ lên và có một vùng lõm trung tâm gọi là lõm đĩa thị (cup) (hình 1). Đường kính ngang của dây thần kinh thị bình thường khoảng 1,5 mm. (Xem thêm mục ‘Đáy mắt bình thường’ ở dưới.)
Các bất thường bẩm sinh – Các bất thường bẩm sinh của dây thần kinh thị được phân loại dựa trên kích thước đĩa thị, hình dạng và sự hiện diện của các mô bất thường tại đầu dây thần kinh (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Các bất thường bẩm sinh’ ở dưới.)
- Bất thường về kích thước đĩa thị bao gồm: không phát triển (aplasia), kém phát triển (hypoplasia) (hình 2 và hình 3), và đĩa thị lớn (megalopapilla). (Xem thêm mục ‘Kích thước đĩa thị’ ở dưới.)
- Bất thường về hình dạng bao gồm: đĩa thị nghiêng (hình 4), đĩa thị hình hoa loa kèn (morning glory disc) (hình 1), coloboma đĩa thị (hình 5), hố đĩa thị (hình 6), và staphyloma quanh đĩa thị (hình 7). (Xem thêm mục ‘Hình dạng đĩa thị’ ở dưới.)
- Bất thường do có mô bất thường tại đầu dây thần kinh bao gồm: viễn thị (hình 8), sợi myelin hóa (hình 9), drusen đĩa thị (hình 10), và nhú Bergmeister (hình 11). Những tình trạng này có thể gây nhầm lẫn với hình ảnh sưng nề dây thần kinh thị. (Xem thêm mục ‘Giả sưng nề’ ở dưới.)
Các bất thường mắc phải – Các bất thường mắc phải của dây thần kinh thị được phân loại theo phản ứng của dây thần kinh trước các tổn thương (bảng 1). Các tình trạng này bao gồm (xem thêm mục ‘Các bất thường mắc phải’ ở dưới):
- Lõm đĩa thị (Cupping) (hình 12 và hình 13) (xem thêm mục ‘Lõm đĩa thị’ ở dưới)
- Sưng nề do tăng áp lực nội sọ (phù gai thị) (hình 15), viêm (hình 16), thiếu máu cục bộ (hình 17), chèn ép hoặc thâm nhiễm (hình 18) (xem thêm mục ‘Sưng nề’ ở dưới)
- Teo dây thần kinh thị, có thể là teo lan tỏa (hình 19) hoặc teo phân thùy (hình 20A-B) (xem thêm mục ‘Teo lan tỏa’ và ‘Teo phân thùy’ ở dưới)