TÓM TẮT
Định nghĩa – Chẩn đoán tăng huyết áp ở trẻ sơ sinh được xem xét khi các giá trị huyết áp tâm thu và/hoặc tâm trương kéo dài vượt quá bách phân vị thứ 95 theo tuổi sau kinh (hình 1 và bảng 1). (Xem thêm mục ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Tỉ lệ mắc – Tỉ lệ mắc tăng huyết áp sơ sinh thay đổi tùy theo bối cảnh lâm sàng. Tình trạng này ít gặp ở trẻ sinh đủ tháng khỏe mạnh với tỉ lệ báo cáo là 0,2%. Tỉ lệ này cao hơn ở trẻ nhập đơn vị hồi sức sơ sinh (NICU; từ 0,7% đến 3%), đặc biệt là những trẻ sinh rất non và bệnh nặng, đối tượng thường có nhiều yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp (ví dụ: đặt catheter động mạch rốn [UAC] và loạn sản phế quản phổi). (Xem thêm mục ‘Tỉ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
Đo huyết áp – Huyết áp có thể được đo trực tiếp qua đường động mạch hoặc đo không xâm lấn (ví dụ: phương pháp dao động). Mỗi trung tâm chăm sóc trẻ sơ sinh nên thiết lập quy trình đo huyết áp chuẩn để đảm bảo tính chính xác và nhất quán. Tại trung tâm của chúng tôi, huyết áp được đo khi trẻ đang ngủ hoặc ở trạng thái yên tĩnh, nằm sấp hoặc nằm ngửa. Đối với trẻ không trong tình trạng nguy kịch, huyết áp được đo bằng thiết bị dao động với băng quấn huyết áp có kích thước phù hợp đặt ở cánh tay phải, ưu tiên đo sau khi ăn hoặc sau can thiệp y tế 1,5 giờ. (Xem thêm mục ‘Đo huyết áp’ ở dưới.)
Nguyên nhân – Có nhiều nguyên nhân gây tăng huyết áp sơ sinh (bảng 2). Nguyên nhân phổ biến nhất là thuyên tắc huyết khối liên quan đến catheter động mạch rốn (UAC), tiếp theo là bệnh phổi mạn tính và bệnh thận. (Xem thêm mục ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – Hầu hết trẻ sơ sinh tăng huyết áp không có triệu chứng. Ở những trẻ có triệu chứng, mức độ tăng huyết áp có thể không tương quan với sự xuất hiện hay mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng đó. Tăng huyết áp có thể biểu hiện qua các triệu chứng tim mạch hô hấp, thần kinh, thận và các dấu hiệu không đặc hiệu như lờ đờ, bú kém, ngưng thở và kích thích (bảng 3). (Xem thêm mục ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán tăng huyết áp được xác nhận khi các lần đo chính xác lặp lại cho thấy huyết áp tâm thu hoặc tâm trương kéo dài vượt quá bách phân vị thứ 95 theo tuổi sau kinh (tuổi thai khi sinh cộng với tuổi thực tế) (hình 1 và bảng 1). (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Đánh giá – Khi chẩn đoán tăng huyết áp sơ sinh được xác nhận, cần tiến hành đánh giá để xác định nguyên nhân cơ bản nhằm tìm hướng điều trị khắc phục. Quá trình đánh giá bao gồm khai thác bệnh sử tập trung, khám lâm sàng, kết hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh chọn lọc. (Xem thêm mục ‘Đánh giá’ ở dưới và mục “Xử trí tăng huyết áp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ”, phần ‘Khắc phục nguyên nhân cơ bản’.)