TÓM TẮT
Ảnh hưởng của tình trạng đái tháo đường ở mẹ – Đái tháo đường trong thai kỳ làm tăng nguy cơ xảy ra các biến chứng cho thai nhi, trẻ sơ sinh và những hệ lụy lâu dài cho con cái. Nguy cơ biến chứng thay đổi đáng kể tùy thuộc vào việc người mẹ mắc đái tháo đường tiền thai kỳ hay đái tháo đường thai kỳ (PGDM hoặc GDM), mức độ phụ thuộc insulin và khả năng kiểm soát đường huyết trước cũng như trong suốt thai kỳ (Xem thêm ‘Tác động của tình trạng tiểu đường ở mẹ’ ở dưới).
Biến chứng sơ sinh do đái tháo đường ở mẹ – Trẻ sơ sinh có mẹ mắc đái tháo đường (IMD) có nguy cơ cao gặp các tác động bất lợi sau (bảng 2):
- Dị tật bẩm sinh, đặc biệt là các khiếm khuyết về tim mạch và hệ thần kinh trung ương (CNS) (bảng 1) (xem ‘Bất thường bẩm sinh’ ở dưới)
- Sinh non (xem ‘Sinh non’ ở dưới và “Đái tháo đường tiền tồn tại (trước khi mang thai): Các vấn đề sản khoa và quản lý thai kỳ”, phần ‘Sinh non’)
- Ngạt chu sinh (xem ‘Ngạt chu sinh’ ở dưới và “Ngạt chu sinh ở trẻ đủ tháng và trẻ sinh non muộn”)
- Thai to hoặc lớn so với tuổi thai (được định nghĩa là cân nặng lúc sinh [BW] >4000 g hoặc >bách phân vị thứ 90 so với tuổi thai) (hình 1) (xem ‘Thai to’ ở dưới và “Trẻ sơ sinh lớn so với tuổi thai (LGA)”)
- Suy hô hấp (xem ‘Suy hô hấp’ ở dưới)
- Hạ đường huyết, thường xuất hiện trong vài giờ đầu sau sinh (xem ‘Hạ đường huyết’ ở dưới và “Cơ chế bệnh sinh, sàng lọc và chẩn đoán hạ đường huyết sơ sinh”)
- Hạ canxi máu, thường không có triệu chứng (xem ‘Hạ canxi máu’ ở dưới và “Hạ canxi máu sơ sinh”)
- Đa hồng cầu (xem ‘Đa hồng cầu’ ở dưới và “Đa hồng cầu sơ sinh”)
- Dự trữ sắt thấp (xem ‘Dự trữ sắt thấp’ ở dưới)
- Tăng bilirubin máu (xem ‘Tăng bilirubin máu’ ở dưới và “Tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh: Các yếu tố nguy cơ, biểu hiện lâm sàng và biến chứng thần kinh”)
- Phì đại thất tạm thời, thường không có triệu chứng (xem ‘Phì đại tâm thất’ ở dưới)
Tổng quan về quản lý – Việc quản lý trẻ IMD tập trung vào việc tiên lượng và điều trị các biến chứng liên quan đến tình trạng tăng đường huyết ở mẹ. Đánh giá lâm sàng chú trọng vào tình trạng hô hấp, tim mạch của trẻ và xác định các dị tật bẩm sinh chính (bảng 1). (Xem ‘Tổng quan về quản lý trẻ sơ sinh’ ở dưới).
Ngoài các quy trình chăm sóc và sàng lọc sơ sinh thường quy, trẻ IMD cần được sàng lọc hạ đường huyết và đa hồng cầu, như đã thảo luận chi tiết trong các phần riêng (Xem “Cơ chế bệnh sinh, sàng lọc và chẩn đoán hạ đường huyết sơ sinh”, phần ‘Sàng lọc’ và “Đa hồng cầu sơ sinh”, phần ‘Chẩn đoán’).
Chi tiết bổ sung về quản lý các biến chứng cụ thể ở trẻ IMD được cung cấp trong các bài tổng quan chuyên đề riêng biệt:
- Bệnh tim bẩm sinh nặng (xem “Bệnh tim bẩm sinh có tím ở trẻ sơ sinh: Nguyên nhân, đánh giá và xử trí ban đầu”, phần ‘Xử trí ban đầu’)
- Hội chứng suy hô hấp (xem “Hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh non tháng: Xử trí”)
- Thở nhanh tạm thời ở trẻ sơ sinh (TTN) (xem “Thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh”, phần ‘Xử trí’)
- Tăng bilirubin máu (xem “Tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ sinh đủ tháng và sinh non muộn: Xử trí ban đầu”)
- Hạ đường huyết (xem “Xử trí và tiên lượng hạ đường huyết sơ sinh”)
- Hạ canxi máu (xem “Hạ canxi máu sơ sinh”, phần ‘Xử trí’)
- Đa hồng cầu (xem “Đa hồng cầu sơ sinh”, phần ‘Xử trí’)
- Suy tim do phì đại thất (xem “Suy tim ở trẻ em: Xử trí”)
Kết cục dài hạn – Các dữ liệu dài hạn về con của các bà mẹ mắc đái tháo đường cho thấy việc tiếp xúc với tình trạng tăng đường huyết trong bào thai làm tăng nguy cơ gặp các biến chứng chuyển hóa sau này (ví dụ: rối loạn chuyển hóa glucose, béo phì, đái tháo đường type 2). Hầu hết các nghiên cứu quan sát hiện có cho thấy đái tháo đường ở mẹ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nhận thức của con, mặc dù một số nghiên cứu cho thấy tác động này không đáng kể hoặc không có (Xem ‘Kết quả lâu dài’ ở dưới).