TÓM TẮT
Thuật ngữ – Trẻ sơ sinh có cơ quan sinh dục không điển hình (không rõ ràng là nam hay nữ) hoặc có hình thái không phù hợp với bộ nhiễm sắc thể giới tính được phân loại là có sự phát triển giới tính khác biệt (Difference of Sex Development – DSD). Các thuật ngữ dùng để mô tả đặc điểm của DSD đôi khi gây nhầm lẫn hoặc không nhất quán. Bảng thuật ngữ được cung cấp tại bảng 1. (Xem thêm “Đánh giá trẻ sơ sinh có cơ quan sinh dục không điển hình (phát triển giới tính khác biệt)”, phần ‘Thuật ngữ’.)
Nguyên nhân ở cá thể 46,XX – Các nguyên nhân gây ra hình thái cơ quan sinh dục không điển hình ở cá thể 46,XX bao gồm (bảng 2):
- Tăng sản thượng thận bẩm sinh (CAH) thể điển hình – Đây là nguyên nhân phổ biến nhất, thường do thiếu hụt 21-hydroxylase gây ra tình trạng nam hóa ở cá thể có kiểu nhân XX. Việc nhận diện sớm (thông qua sàng lọc sơ sinh tại Hoa Kỳ và nhiều nước phương Tây) và điều trị kịp thời là rất quan trọng để phòng ngừa cơn suy thượng thận cấp; chẩn đoán dựa trên việc phát hiện nồng độ 17-hydroxyprogesterone (17-OHP) tăng cao rõ rệt. (Xem thêm ‘Tăng sản thượng thận bẩm sinh thể điển hình do thiếu hụt 21-hydroxylase’ ở dưới.)
- Các nguyên nhân khác:
- Các thể CAH ít gặp hơn (ví dụ: thiếu hụt 11-beta-hydroxylase và thiếu hụt 3-beta-hydroxysteroid dehydrogenase [3-beta-HSD]) (xem ‘Các thể tăng sản thượng thận bẩm sinh khác’ ở dưới)
- DSD tinh hoàn và DSD tinh hoàn-buồng trứng (dẫn đến việc tuyến sinh dục sản xuất androgen) (xem ‘Tuyến sinh dục tăng sản xuất androgen’ ở dưới)
- Hiếm gặp hơn là tăng androgen trong thai kỳ do tiếp xúc với androgen từ mẹ hoặc progestin tổng hợp có tác dụng androgen (xem ‘Tăng androgen trong thai kỳ’ ở dưới)
Nguyên nhân ở cá thể XY – Các nguyên nhân gây ra hình thái cơ quan sinh dục không điển hình ở cá thể XY bao gồm (bảng 3):
- Loạn sản tuyến sinh dục dẫn đến khiếm khuyết toàn diện trong chức năng tinh hoàn, làm giảm sản xuất testosterone, hormone chống Müllerian (AMH; còn gọi là chất ức chế Müllerian [MIS] hoặc yếu tố thoái triển Müllerian) và inhibin B (xem ‘Khiếm khuyết toàn diện trong chức năng tinh hoàn’ ở dưới)
- Các tình trạng giảm tổng hợp androgen, bao gồm khiếm khuyết thụ thể hormone luteinizing/gonadotropin sụn màng (LH/hCG) và khiếm khuyết một số enzyme cần thiết cho quá trình tổng hợp androgen (hình 1); bao gồm một số thể CAH không phổ biến (bảng 4) (xem ‘Giảm tổng hợp androgen’ ở dưới)
- Hội chứng không đáp ứng androgen (AIS) do giảm chức năng của thụ thể androgen (AR) (xem ‘Không đáp ứng androgen’ ở dưới)
DSD nhiễm sắc thể giới tính – Thể khảm hoặc thể khảm chimeric ảnh hưởng đến nhiễm sắc thể Y có thể dẫn đến nhiều kiểu hình tuyến sinh dục khác nhau, bao gồm loạn sản tuyến sinh dục hỗn hợp (các tuyến sinh dục phát triển khác nhau với mức độ loạn sản khác nhau), tinh hoàn hoặc buồng trứng bình thường/loạn sản, tuyến sinh dục dạng dải, hoặc tinh hoàn-buồng trứng. (Xem ‘Phát triển giới tính khác biệt do nhiễm sắc thể giới tính’ ở dưới.)
Nguy cơ u nguyên bào tuyến sinh dục – Bệnh nhân có nhiễm sắc thể Y và tuyến sinh dục loạn sản có nguy cơ cao phát triển u nguyên bào tuyến sinh dục. (Xem ‘Phát triển giới tính khác biệt do nhiễm sắc thể giới tính’ ở dưới.)