TÓM TẮT
Giải phẫu – Các rễ thần kinh từ C5 đến T1 hợp thành đám rối cánh tay (hình 1). Đám rối này được chia thành các vùng (theo thứ tự từ gần đến xa) bao gồm: thân, chia, bó, nhánh và dây thần kinh. Các thân và chia tiếp tục được phân chia thành thân trên, thân dưới, thân giữa và bó sau, bó ngoài, bó trong. (Xem phần ‘Giải phẫu’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – Khởi phát triệu chứng của bệnh lý đám rối cánh tay có thể diễn ra cấp tính hoặc âm thầm. Khởi phát cấp tính thường đặc trưng bởi đau vùng vai hoặc cánh tay, trong khi khởi phát âm thầm có thể biểu hiện là đau tăng dần, tê dần và/hoặc yếu một số nhóm cơ nhất định. Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm yếu cơ, teo cơ và mất cảm giác. (Xem phần ‘Triệu chứng và dấu hiệu’ ở dưới.)
Bệnh lý đám rối do chấn thương – Chấn thương là nguyên nhân phổ biến nhất gây tổn thương đám rối cánh tay. Tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ngã, vật nặng rơi vào vai và chấn thương thể thao là một số nguyên nhân gây chấn thương kín đám rối cánh tay. Chấn thương hở đám rối cánh tay có thể do vết thương do súng, vết rách da hoặc động vật cắn. (Xem phần ‘Bệnh lý đám rối do chấn thương’ ở dưới.)
Teo cơ thần kinh (Neuralgic amyotrophy) – Về lâm sàng, teo cơ thần kinh đặc trưng bởi khởi đầu là đau dữ dội, sau đó là yếu cơ khu trú theo vùng phân bố của đám rối cánh tay trên và/hoặc giữa, thường kèm theo dấu hiệu xương bả vai nhô cao (winging of the scapula). Các triệu chứng cảm giác thường xuất hiện ở vùng ngoài vai, cánh tay và/hoặc bàn tay. (Xem phần ‘Teo cơ thần kinh’ ở dưới.)
Bệnh lý đám rối cánh tay di truyền – Đây là một rối loạn di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường hiếm gặp, đặc trưng bởi các đợt tổn thương đám rối cánh tay đau và tái phát. Ở một số gia đình, nguyên nhân được xác định là do các biến thể trong gen SEPT9. (Xem phần ‘Bệnh lý đám rối cánh tay di truyền’ ở dưới.)
Bệnh lý đám rối do tân sinh và xạ trị – Bệnh lý đám rối do tân sinh thường liên quan nhất đến ung thư vú và ung thư phổi. Đau vai và nách là triệu chứng khởi phát phổ biến nhất. Sự xâm lấn vào vùng thấp của đám rối (thân dưới và bó trong) xảy ra thường xuyên hơn so với xâm lấn thân trên. (Xem phần ‘Bệnh lý đám rối do tân sinh và xạ trị’ ở dưới và “Tổng quan về các hội chứng đau do ung thư”, mục ‘Bệnh lý đám rối’.)
Bệnh lý đám rối do xạ trị cần được xem xét ở những bệnh nhân ung thư xuất hiện tổn thương đám rối sau khi xạ trị vùng lân cận đám rối cánh tay. Trong trường hợp này, cả sự tái phát ung thư hoặc tác dụng của xạ trị đều có thể gây ra bệnh lý đám rối cánh tay. (Xem phần ‘Bệnh lý đám rối do tân sinh và xạ trị’ ở dưới và “Tổng quan về các hội chứng đau do ung thư”, mục ‘Bệnh lý đám rối’.)
Hội chứng lối thoát ngực – Hội chứng lối thoát ngực (TOS) là thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm các hội chứng chi trên khác nhau, trong đó một số ít có nguyên nhân do thần kinh. Triệu chứng của TOS do thần kinh bao gồm yếu và teo cơ nội tại bàn tay một bên tiến triển chậm, kèm theo tê theo vùng phân bố của dây thần kinh giữa và dây thần kinh trụ. (Xem phần ‘Hội chứng lối thoát ngực’ ở dưới.)
Bệnh lý đám rối liên quan đến đái tháo đường – Các bệnh lý đám rối liên quan đến đái tháo đường thường ảnh hưởng đến đám rối thắt lưng cùng, nhưng cũng có thể gây tổn thương thêm ở chi trên. Bệnh lý đám rối cánh tay do đái tháo đường có thể xảy ra tại các vị trí gần của đám rối cánh tay. (Xem phần ‘Bệnh lý đám rối liên quan đến đái tháo đường’ ở dưới.)
Bệnh lý đám rối do can thiệp y khoa – Các bệnh lý đám rối do can thiệp y khoa liên quan đến phẫu thuật và các thủ thuật y tế khác bao gồm liệt sau phẫu thuật điển hình, bệnh lý đám rối sau mở xương ức đường giữa và hội chứng khoang mạc trong. (Xem phần ‘Bệnh lý đám rối do can thiệp y khoa’ ở dưới.)