TÓM TẮT
Trường Cao đẳng Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) đã công bố các hướng dẫn nhằm hỗ trợ dự đoán khả năng ác tính của các khối u buồng trứng hoặc khối u phần phụ 35. ACOG khuyến cáo chuyển tuyến đến chuyên gia ung thư phụ khoa trong các trường hợp sau:
- Bệnh nhân sau mãn kinh có nồng độ kháng nguyên ung thư 125 (CA 125) tăng, hình ảnh siêu âm gợi ý ung thư, có cổ trướng, khối u vùng chậu dạng nốt hoặc cố định, hoặc có bằng chứng di căn phúc mạc hoặc di căn xa.
- Bệnh nhân tiền mãn kinh có nồng độ CA 125 tăng rất cao, hình ảnh siêu âm gợi ý ung thư, có cổ trướng, khối u vùng chậu dạng nốt hoặc cố định, hoặc có bằng chứng di căn phúc mạc hoặc di căn xa.
- Bệnh nhân tiền mãn kinh hoặc sau mãn kinh có điểm số cao trong các xét nghiệm đánh giá nguy cơ chính thức (ví dụ: xét nghiệm chỉ số đa biến, chỉ số nguy cơ ác tính, thuật toán đánh giá nguy cơ ung thư buồng trứng) hoặc một trong các hệ thống chấm điểm dựa trên siêu âm của Nhóm Phân tích Khối u Buồng trứng Quốc tế (IOTA).
Khuyến cáo này dựa trên các bằng chứng nhất quán từ nhiều nghiên cứu cho thấy việc điều trị phẫu thuật bởi các bác sĩ không chuyên về ung thư phụ khoa, hoặc tại các cơ sở y tế có số lượng ca phẫu thuật thấp, dẫn đến kết quả quản lý phẫu thuật không tối ưu và thời gian sống sót trung bình ngắn hơn. Các hướng dẫn được tóm tắt trong bảng (bảng 5). (Xem thêm “Tiếp cận bệnh nhân có khối u phần phụ”, phần ‘Khi nào cần chuyển tuyến đến chuyên gia ung thư phụ khoa’.)
TỔNG KẾT VÀ KHUYẾN NGHỊ
Vai trò của phát hiện sớm – Mục tiêu của việc phát hiện sớm ung thư biểu mô buồng trứng là cải thiện tiên lượng bằng cách chẩn đoán bệnh khi khối u còn khu trú tại buồng trứng thay vì ở giai đoạn tiến triển, khi tỷ lệ sống sót sau 5 năm kém thuận lợi hơn (bảng 1 và bảng 2). (Xem ‘Vai trò của phát hiện sớm’ ở dưới.)
Nhận diện triệu chứng
- Hầu hết bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng đều có các triệu chứng ở bụng trước khi được chẩn đoán. Những triệu chứng này thường liên quan đến tiêu hóa hoặc tiết niệu hơn là các triệu chứng phụ khoa. (Xem ‘Sự hiện diện của các triệu chứng sớm’ ở dưới.)
- Chướng bụng, tăng kích thước vòng bụng, tiểu gấp hoặc tiểu nhiều lần, khó ăn hoặc no sớm, và đau bụng hoặc đau vùng chậu thường gặp trong nhiều bệnh lý tiêu hóa, nhưng cũng rất phổ biến ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng (bảng 3). Đặc biệt, cần nghi ngờ ung thư biểu mô buồng trứng khi các triệu chứng này xuất hiện đồng thời, xảy ra gần như hàng ngày và mức độ nghiêm trọng hơn mong đợi (bảng 4). (Xem ‘Sự hiện diện của các triệu chứng sớm’ ở dưới.)
- Một chỉ số triệu chứng đã được phát triển để hỗ trợ các lâm sàng viên trong việc đánh giá các triệu chứng sớm của ung thư biểu mô buồng trứng. Tuy nhiên, chỉ số này cần thêm các nghiên cứu xác thực và hiện chưa được khuyến cáo sử dụng thường quy trong lâm sàng. (Xem ‘Chỉ số triệu chứng’ ở dưới.)
Kết quả khám lâm sàng – Các dấu hiệu khám lâm sàng gợi ý ung thư biểu mô buồng trứng bao gồm: khối u phần phụ; cổ trướng; khối u ở vùng bụng giữa hoặc bụng trên bên trái (có thể là bánh mỡ nối – omental cake); tràn dịch màng phổi; và sưng hạch bẹn hoặc hạch thượng đòn. (Xem ‘Khám lâm sàng’ ở dưới.)
Xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh – Chúng tôi đề xuất siêu âm vùng chậu và đo nồng độ kháng nguyên ung thư 125 (CA 125) trong huyết thanh để đánh giá sâu hơn cho những bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng hoặc các triệu chứng kéo dài gợi ý ung thư biểu mô buồng trứng. (Xem ‘Xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Chuyển tuyến – Các hướng dẫn của Trường Cao đẳng Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) về việc chuyển tuyến đến chuyên gia ung thư phụ khoa được tóm tắt trong bảng (bảng 5). (Xem ‘Chuyển tuyến đến chuyên gia ung thư phụ khoa’ ở dưới.)