TÓM TẮT
Hầu hết các trường hợp viêm vú và áp xe vú ở trẻ sơ sinh do Staphylococcus aureus gây ra. Các nguyên nhân ít gặp hơn bao gồm vi khuẩn đường ruột gram âm, vi khuẩn kị khí và liên cầu khuẩn nhóm B (group B Streptococcus). (Xem thêm mục ‘Vi sinh vật học’ ở dưới.)
Trong năm đầu đời, viêm vú thường xảy ra ở trẻ dưới hai tháng tuổi. Chẩn đoán lâm sàng viêm vú có thể được xác lập khi trẻ có các dấu hiệu điển hình: sưng một bên, đỏ da, nóng, đau khi chạm vào và/hoặc cứng vú (hình 1). Dấu hiệu bập bùng cho thấy có áp xe vú. Siêu âm không bắt buộc nhưng có thể giúp xác nhận chẩn đoán viêm vú hoặc áp xe vú trong trường hợp chẩn đoán chưa rõ ràng. Các triệu chứng toàn thân (ví dụ: sốt, bú kém) là dấu hiệu của bệnh lý tiến triển nặng hơn. (Xem thêm mục ‘Đặc điểm lâm sàng’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chúng tôi chỉ định tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (có công thức bạch cầu) và cấy máu trước khi bắt đầu điều trị kháng sinh. Đồng thời, thực hiện nhuộm Gram và nuôi cấy dịch tiết núm vú (nếu có) và dịch áp xe (nếu có áp xe). Chọc dò dịch não tủy (CSF) được chỉ định cho trẻ dưới 2 tháng tuổi có tình trạng bệnh nặng (ví dụ: chán ăn, lờ đờ, có áp xe), sốt (≥38°C [100,4°F]) hoặc sốt không rõ ràng nếu trẻ dưới 28 ngày tuổi, hoặc có số lượng bạch cầu ≥15.000/microL hoặc <5.000/microL. (Xem thêm mục ‘Đánh giá bổ sung’ ở dưới.)
Áp xe vú có thể cần chọc hút và/hoặc rạch dẫn lưu kết hợp với liệu pháp kháng sinh, trừ khi áp xe tự vỡ và dẫn lưu tự nhiên. Việc rạch dẫn lưu phải được thực hiện bởi nhân viên y tế có chuyên môn phù hợp (ví dụ: phẫu thuật viên vú, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh can thiệp vú hoặc phẫu thuật viên nhi khoa). (Xem thêm mục ‘Dẫn lưu áp xe vú’ ở dưới.)
Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi mắc viêm vú hoặc áp xe vú, chúng tôi chỉ định điều trị kháng sinh ban đầu đường tĩnh mạch. (Xem thêm mục ‘Liệu pháp kháng sinh’ ở dưới.)
Với những trẻ viêm vú hoặc áp xe vú kèm biến chứng nặng (ví dụ: viêm mô tế bào lan ra ngoài vùng da phủ trên nụ vú, viêm cân mạc hoại tử, viêm tủy xương và sốc), chúng tôi sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch bao phủ rộng cho S. aureus kháng methicillin (MRSA), S. aureus nhạy methicillin (MSSA) và vi khuẩn gram âm (ví dụ: vancomycin kết hợp nafcillin và một trong các thuốc sau: gentamicin, cefotaxime, ceftazidime hoặc ceftriaxone). Cần tránh dùng ceftriaxone tĩnh mạch cho trẻ đang hoặc dự kiến sẽ truyền canxi tĩnh mạch trong dịch truyền hoặc nuôi dưỡng tĩnh mạch do nguy cơ gây ra các phản ứng thuốc nghiêm trọng, đe dọa tính mạng. (Xem thêm mục ‘Lựa chọn phác đồ’ ở dưới.)
Phác đồ kháng sinh kinh nghiệm cho trẻ không có biến chứng nặng được quyết định dựa trên kết quả nhuộm Gram (nếu có) và mô hình nhạy cảm kháng sinh tại địa phương (bảng 1). Liệu pháp điều trị cần được điều chỉnh theo kết quả nuôi cấy ngay khi có kết quả. (Xem thêm mục ‘Lựa chọn phác đồ’ ở dưới.)
Hầu hết bệnh nhân có tiên lượng rất tốt. Tuy nhiên, có một số báo cáo về tình trạng bất đối xứng vú sau khi rạch dẫn lưu áp xe vú ở thời thơ ấu. Tái phát hiếm gặp. (Xem thêm mục ‘Tiên lượng’ ở dưới.)