TÓM TẮT
Dịch tễ học – Viêm màng não mủ thường gặp nhất trong tháng đầu đời so với bất kỳ giai đoạn nào khác trong cuộc đời. Các yếu tố nguy cơ gây viêm màng não sơ sinh nhìn chung tương tự như các yếu tố nguy cơ gây nhiễm trùng huyết sơ sinh (ví dụ: nhẹ cân, sinh non, vỡ ối sớm và/hoặc kéo dài, nhiễm trùng nội màng ối ở mẹ). (Xem thêm phần ‘Dịch tễ học’ ở dưới, “Nhiễm trùng huyết mủ sơ sinh: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán ở trẻ sinh <35 tuần thai”, mục ‘Yếu tố nguy cơ’ và “Nhiễm trùng huyết mủ sơ sinh: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán ở trẻ sinh ≥35 tuần thai”, mục ‘Yếu tố nguy cơ từ mẹ’.)
Vi sinh học – *Streptococcus* nhóm B (GBS) và *Escherichia coli* là những tác nhân gây viêm màng não mủ phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh. (Xem thêm phần ‘Vi sinh học’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – Các dấu hiệu của viêm màng não sơ sinh bao gồm (xem thêm phần ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới):
- Sốt (nhiệt độ trực tràng >38°C) hoặc hạ thân nhiệt (nhiệt độ trực tràng <36°C)
- Kích thích
- Lờ đờ
- Bú kém hoặc không dung nạp sữa
- Thóp phồng
- Cứng gáy chỉ xuất hiện ở một số ít trẻ
Cần nghi ngờ viêm màng não sơ sinh ở bất kỳ trẻ nào < 1 tháng tuổi có các dấu hiệu của nhiễm trùng huyết, vì các biểu hiện lâm sàng giai đoạn sớm thường không thể phân biệt được.
Đánh giá – Việc đánh giá trẻ sơ sinh nghi ngờ nhiễm trùng huyết hoặc viêm màng não bao gồm (xem thêm phần ‘Đánh giá’ ở dưới):
- Xem xét tiền sử trước sinh và quá trình sinh
- Khám thực thể toàn diện
- Xét nghiệm cận lâm sàng đầy đủ để chẩn đoán nhiễm trùng huyết, bao gồm:
- Tổng phân tích tế bào máu kèm công thức bạch cầu (tùy chọn)
- Cấy máu
- Cấy nước tiểu (nếu trẻ ≥72 giờ tuổi)
- Chọc dò thắt lưng (LP) để xét nghiệm dịch não tủy (CSF): đếm tế bào, định lượng protein, glucose, nhuộm Gram, nuôi cấy và xét nghiệm sinh học phân tử
Biện luận kết quả dịch não tủy – Viêm màng não mủ sơ sinh đặc trưng bởi các kết quả dịch não tủy sau (xem thêm phần ‘Biện luận kết quả dịch não tủy’ ở dưới):
- Số lượng bạch cầu trong dịch não tủy >15 tế bào/µL với ưu thế bạch cầu đa nhân trung tính
- Tăng protein dịch não tủy
- Giảm glucose dịch não tủy
Điều trị kinh nghiệm – Trong khi chờ kết quả nuôi cấy, những trẻ sơ sinh đã được đánh giá nghi ngờ nhiễm trùng huyết và viêm màng não cần được nhập viện và điều trị bằng kháng sinh đường tiêm/truyền, như đã thảo luận chi tiết ở phần khác. (Xem thêm “Viêm màng não mủ ở trẻ sơ sinh: Điều trị và tiên lượng”, mục ‘Điều trị kinh nghiệm’.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán viêm màng não mủ sơ sinh được xác định khi phân lập được tác nhân vi khuẩn từ dịch não tủy thông qua nuôi cấy hoặc các phương pháp sinh học phân tử. Nếu việc chọc dò thắt lưng bị trì hoãn cho đến 24 đến 36 giờ sau khi bắt đầu dùng kháng sinh, chẩn đoán có thể dựa trên các thông số dịch não tủy bất thường (ví dụ: tăng bạch cầu đa nhân trung tính, giảm glucose, tăng protein) và kết quả phân lập tác nhân từ máu. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt của viêm màng não mủ ở trẻ sơ sinh bao gồm các nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng gây ra các bất thường về thần kinh, mất ổn định thân nhiệt và/hoặc mất ổn định tim mạch-hô hấp (bảng 2). (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)