TÓM TẮT
Dịch tễ học – Phần lớn các trường hợp nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) mới ở thanh thiếu niên là do các hành vi tình dục nguy cơ cao (bảng 2). Tỷ lệ nhiễm HIV thay đổi tùy theo độ tuổi, chủng tộc, dân tộc và địa lý (hình 1). (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Sàng lọc HIV – Chúng tôi khuyến cáo sàng lọc HIV định kỳ ít nhất một lần cho tất cả thanh thiếu niên (bất kể có báo cáo hoạt động tình dục hay không) từ 16 đến 18 tuổi (Khuyến cáo 2C). Đối với thanh thiếu niên có nguy cơ cao (bảng 1), nên thực hiện xét nghiệm HIV hàng năm. Sàng lọc HIV định kỳ đóng vai trò quan trọng vì nhiều thanh thiếu niên nhiễm bệnh không biết mình mắc bệnh. Chẩn đoán sớm, kết nối chăm sóc và khởi động điều trị kháng virus (ART) giúp cải thiện kết quả lâm sàng và giảm nguy cơ lây truyền sang người khác. (Xem thêm mục ‘Sàng lọc định kỳ’ ở dưới và “Sàng lọc và xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV ở người lớn”.)
Đánh giá ban đầu ở thanh thiếu niên nhiễm HIV
Đánh giá tâm lý xã hội – Việc chăm sóc thanh thiếu niên nhiễm HIV đòi hỏi sự hỗ trợ tâm lý xã hội liên tục để khuyến khích họ gắn bó với quá trình điều trị. Điều này bao gồm đánh giá kỹ lưỡng mức độ sẵn sàng bắt đầu ART và khả năng tuân thủ điều trị của từng cá nhân. Các yếu tố quan trọng cần xem xét bao gồm: hệ thống hỗ trợ xã hội, các hành vi nguy cơ cao, rối loạn sử dụng chất, bệnh tâm thần, bệnh đồng mắc, các yếu tố kinh tế xã hội (ví dụ: nhà ở không ổn định, mất an ninh lương thực), tình trạng bảo hiểm y tế và các rào cản về vận chuyển. Nếu phát hiện các lo ngại hoặc rào cản, cần cung cấp các biện pháp hỗ trợ phù hợp. (Xem thêm mục ‘Đánh giá tâm lý xã hội’, ‘Mức độ sẵn sàng khởi động điều trị kháng virus’ và ‘Hỗ trợ và tư vấn chung’ ở dưới.)
Khám lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng – Việc khám lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng ở thanh thiếu niên nhiễm HIV về cơ bản tương tự như ở người lớn. Các khuyến cáo về xét nghiệm cơ bản và theo dõi có sẵn tại website HIV.gov. Cần bắt đầu sàng lọc ung thư cổ tử cung và hậu môn do HPV, giang mai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STI) khác ngay tại thời điểm chẩn đoán. (Xem thêm “Đánh giá ban đầu ở người lớn nhiễm HIV”, “Sàng lọc các bệnh lây truyền qua đường tình dục” và “Tổng quan về dự phòng nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân HIV”.)
Quản lý và Điều trị
Khởi động điều trị kháng virus – Các nguyên tắc điều trị ART ở thanh thiếu niên tương tự như ở người lớn. ART nên được khởi động cho tất cả bệnh nhân nhiễm HIV, bất kể giai đoạn lâm sàng. Mục tiêu của ART là giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong liên quan đến HIV (do cả nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng) và ngăn ngừa lây truyền HIV sang người khác. Để đạt được và duy trì các mục tiêu này, ART cần đạt được sự ức chế tối đa HIV RNA. Chi tiết về việc lựa chọn phác đồ ART được cung cấp trong một phần riêng. (Xem “Lựa chọn phác đồ kháng virus cho người mới điều trị HIV-1: Tiếp cận chung”.)
Các lưu ý quản lý khác – Các thành phần quan trọng trong quản lý thanh thiếu niên nhiễm HIV bao gồm:
- Tiêm chủng (xem “Tiêm chủng ở người nhiễm HIV”)
- Sử dụng bao cao su thường xuyên và sàng lọc STI định kỳ (bảng 3) (xem mục ‘Sử dụng bao cao su’ ở dưới và “Sàng lọc các bệnh lây truyền qua đường tình dục”)
- Phòng tránh thai; tư vấn tiền sản và tiếp cận chăm sóc sản khoa chuyên sâu để tránh lây truyền dọc hoặc lây cho bạn tình, đảm bảo kết quả thai kỳ khỏe mạnh (xem “Tránh thai: Tổng quan các vấn đề đặc thù ở thanh thiếu niên” và “Đánh giá tiền sản cho phụ nữ nhiễm HIV ở các khu vực đầy đủ nguồn lực”)
- Theo dõi đáp ứng điều trị, tình trạng miễn dịch, bệnh đồng mắc và sử dụng các biện pháp dự phòng nhiễm trùng cơ hội phù hợp (bảng 5 và bảng 3) (xem “Tổng quan về dự phòng nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân HIV”)
- Theo dõi các biến chứng không do nhiễm trùng và thúc đẩy lối sống lành mạnh (xem mục ‘Biến chứng không do nhiễm trùng’ ở dưới và “Chăm sóc ban đầu cho người lớn nhiễm HIV”, phần ‘Theo dõi biến chứng và chăm sóc dự phòng’)
- Lập kế hoạch và hỗ trợ chuyển tiếp, cũng như hướng dẫn dự phòng về các giai đoạn chuyển đổi trong cuộc sống có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị (xem “Trẻ em và thanh thiếu niên có nhu cầu chăm sóc sức khỏe đặc biệt”, phần ‘Lập kế hoạch chuyển tiếp’)
Thanh thiếu niên nhiễm HIV từ mẹ sang con – Thanh thiếu niên nhiễm HIV qua đường truyền dọc hoặc chu sinh đối mặt với những thách thức đặc thù, bao gồm: đã có kinh nghiệm điều trị ART; các áp lực tâm lý xã hội khi tiết lộ bệnh, sự kỳ thị và tuân thủ điều trị; các vấn đề về sức khỏe tình dục và sinh sản của bản thân; nguy cơ lây truyền sang người khác; và nhu cầu chuyển đổi từ mô hình chăm sóc nhi khoa dài hạn sang mô hình chăm sóc cho người lớn. (Xem mục ‘Thanh thiếu niên nhiễm HIV truyền dọc’ ở dưới.)
Chiến lược dự phòng nhiễm HIV
Giảm nguy cơ lây nhiễm HIV – Các chiến lược dự phòng cấp 1 tập trung vào việc ngăn ngừa lây nhiễm cho những người chưa nhiễm HIV. Điều này bao gồm hướng dẫn dự phòng trong khuôn khổ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho thanh thiếu niên và các chiến lược nhắm vào nhóm quần thể nguy cơ cao. Các can thiệp hiệu quả bao gồm: sử dụng bao cao su thường xuyên, xét nghiệm và điều trị STI, dùng PrEP cho những người có nguy cơ nhiễm HIV kéo dài, và dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) cho những trường hợp có phơi nhiễm HIV đơn độc nghiêm trọng. (Xem mục ‘Dự phòng’ ở dưới, “Quản lý phơi nhiễm HIV và viêm gan B, C không do nghề nghiệp ở người lớn” và “Điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP)”.)
Giảm nguy cơ lây truyền HIV sang người khác – Thanh thiếu niên nhiễm HIV cần được tư vấn nhằm giảm nguy cơ lây truyền cho người khác và tăng cường hành vi tự chăm sóc. Các chiến lược giảm nguy cơ lây truyền bao gồm: giảm các hành vi tình dục nguy cơ cao; sử dụng bao cao su; duy trì tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện thông qua tuân thủ ART; và hướng dẫn bạn tình, bạn bè đi sàng lọc, giảm thiểu nguy cơ và điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP). (Xem mục ‘Dự phòng cấp 2’ và ‘Sử dụng bao cao su’ ở dưới.)