TÓM TẮT
Định nghĩa – Viêm xương chũm cấp là tình trạng nhiễm trùng mủ tại các tế bào khí xương chũm với thời gian diễn tiến dưới một tháng. Bệnh có thể là thể không biến chứng hoặc có biến chứng (ví dụ: đi kèm một hoặc nhiều biến chứng nội sọ hoặc ngoài sọ (hình 1)). (Xem phần ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Vi sinh học – Các loài vi khuẩn thường gặp nhất trong viêm xương chũm cấp là Streptococcus pneumoniae và Streptococcus pyogenes. Ít gặp hơn là Fusobacterium necrophorum, Haemophilus influenzae (không định type) và Staphylococcus aureus. Cần lưu ý đến Pseudomonas aeruginosa ở những trẻ có tiền sử viêm tai giữa cấp (AOM) tái phát hoặc vừa sử dụng kháng sinh. (Xem “Viêm xương chũm cấp ở trẻ em: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Vi sinh học’.)
Hội chẩn ngoại khoa – Cần hội chẩn sớm với bác sĩ Tai Mũi Họng trong quá trình diễn tiến của bệnh. Hội chẩn với bác sĩ ngoại thần kinh có thể được chỉ định cho những trẻ có bằng chứng lâm sàng hoặc hình ảnh học về biến chứng nội sọ. Ngoài ra, việc hội chẩn với chuyên gia truyền nhiễm nhi khoa sẽ giúp định hướng liệu pháp kháng sinh. (Xem ‘Chuyển tuyến’ ở dưới.)
Hướng tiếp cận điều trị – Việc điều trị viêm xương chũm cấp phụ thuộc vào giai đoạn bệnh lý cũng như sự hiện diện và loại biến chứng. Liệu pháp kháng sinh và dẫn lưu tai giữa, xương chũm là những trụ cột trong điều trị (bảng 1). (Xem ‘Hướng tiếp cận điều trị’ ở dưới.)
Thể không biến chứng – Đối với trẻ viêm xương chũm cấp hoặc bán cấp (thể che lấp) không biến chứng, chúng tôi đề xuất điều trị bảo tồn ban đầu thay vì can thiệp ngoại khoa tích cực (Khuyến cáo 2C). Điều trị bảo tồn bao gồm kháng sinh đường tĩnh mạch (IV) và dẫn lưu tai giữa bằng thủ thuật trích rạch màng nhĩ (có hoặc không đặt ống thông hòm nhĩ [TT]). Bệnh nhân cần được theo dõi đáp ứng lâm sàng hàng ngày; thực hiện phẫu thuật mở xương chũm nếu không có cải thiện lâm sàng trong vòng 48 giờ. (Xem ‘Thể không biến chứng’ và ‘Đáp ứng điều trị’ ở dưới.)
Thể có biến chứng – Đối với trẻ có biến chứng mủ ngoài sọ hoặc nội sọ của viêm xương chũm cấp (ngoại trừ liệt dây thần kinh mặt [hình 1]), chúng tôi đề xuất can thiệp ngoại khoa tích cực ban đầu bằng phẫu thuật mở xương chũm kết hợp với kháng sinh tĩnh mạch và trích rạch màng nhĩ (có đặt ống TT), thay vì chỉ điều trị bảo tồn đơn thuần (Khuyến cáo 2C). Trường hợp viêm xương chũm cấp có biến chứng liệt dây thần kinh mặt đơn độc có thể điều trị bảo tồn ban đầu. (Xem ‘Thể có biến chứng’ và ‘Dẫn lưu’ ở dưới.)
Lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm – Điều trị viêm xương chũm cần sử dụng kháng sinh đường toàn thân. Việc lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm ban đầu cho trẻ viêm xương chũm cấp phụ thuộc vào tiền sử viêm tai giữa cấp (AOM) tái phát hoặc việc sử dụng kháng sinh gần đây (bảng 2) (xem ‘Liệu pháp kháng sinh’ ở dưới):
- Đối với trẻ không có tiền sử AOM tái phát hoặc không dùng kháng sinh gần đây, chúng tôi đề xuất điều trị kinh nghiệm bằng ampicillin-sulbactam (Khuyến cáo 2C).
- Đối với trẻ có tiền sử AOM tái phát hoặc vừa dùng kháng sinh, chúng tôi đề xuất piperacillin-tazobactam làm liệu pháp kinh nghiệm ban đầu (Khuyến cáo 2C) do có hoạt tính chống lại P. aeruginosa.
Điều chỉnh kháng sinh và thời gian điều trị – Khi có kết quả nuôi cấy và kháng sinh đồ, liệu pháp kháng sinh cần được điều chỉnh tương ứng. Trong viêm xương chũm không biến chứng, tổng thời gian điều trị kháng sinh là bốn tuần. Có thể chuyển sang kháng sinh đường uống khi trẻ cải thiện lâm sàng và đã có kết quả nuôi cấy, kháng sinh đồ. (Xem ‘Liệu pháp kháng sinh’ ở dưới.)
Tiên lượng – Hầu hết trẻ viêm xương chũm cấp được điều trị đúng và sớm sẽ hồi phục mà không có biến chứng hay di chứng lâu dài. Sự lan rộng vào nội sọ có thể dẫn đến khiếm khuyết thần kinh vĩnh viễn hoặc tử vong. Mất thính lực vĩnh viễn là một biến chứng ít gặp. (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới.)