TÓM TẮT
Di truyền học – Hội chứng Williams (WS, còn gọi là hội chứng Williams-Beuren) là một hội chứng mất đoạn gen liên tiếp đa hệ thống, gây ra bởi sự mất đoạn từ 1,5 đến 1,8 Mb trên nhiễm sắc thể 7q11.23. Đây là một trong những rối loạn di truyền phổ biến nhất với tỷ lệ mắc ước tính là 1:7500 trẻ sinh ra sống sót. Hầu hết các trường hợp là đột biến mới xuất hiện (de novo), tuy nhiên di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường cũng đã được ghi nhận. Tình trạng bán hợp tử (hemizygosity) của elastin là nguyên nhân gây ra các bất thường về mạch máu và van tim trong hội chứng WS. (Xem thêm mục ‘Di truyền học’ và ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Bệnh nhân có biểu hiện đa dạng các đặc điểm sau (xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới):
- Các đặc điểm khuôn mặt đặc trưng (hình 1). (Xem thêm mục ‘Đặc điểm hình thái khuôn mặt’ ở dưới.)
- Bất thường tim mạch, phổ biến nhất là hẹp eo động mạch chủ trên van và hẹp động mạch phổi ngoại vi. Mặc dù hiếm gặp, nhưng những bất thường này làm tăng nguy cơ đột tử. (Xem thêm mục ‘Bất thường tim mạch’ và ‘Đột tử do tim’ ở dưới.)
- Tăng huyết áp xuất hiện ở gần một nửa số bệnh nhân WS. (Xem thêm mục ‘Tăng huyết áp’ ở dưới.)
- Bất thường nội tiết bao gồm tăng canxi máu và suy giáp. Bệnh nhân trưởng thành có nguy cơ phát triển đái tháo đường type 2. (Xem thêm mục ‘Rối loạn nội tiết’ ở dưới.)
- Đặc điểm nhận thức bao gồm khuyết tật trí tuệ đi kèm với tính cách thân thiện, hòa đồng. (Xem thêm mục ‘Khuyết tật trí tuệ và phát triển thần kinh’ ở dưới.)
- Chiều cao thấp. (Xem thêm mục ‘Tăng trưởng và chiều cao thấp’ ở dưới.)
- Bất thường hệ tiết niệu – sinh dục bao gồm dị tật bẩm sinh thận và đường tiết niệu (CAKUT), rối loạn đi tiểu, vôi hóa thận do tăng canxi niệu và nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. (Xem thêm mục ‘Bất thường thận và đường tiết niệu’ ở dưới.)
- Các phát hiện khác bao gồm bất thường về thính giác, nhãn khoa, răng hàm mặt, tiêu hóa và cơ xương khớp. (Xem thêm mục ‘Các phát hiện khác’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán lâm sàng thường được thực hiện ở giai đoạn nhũ nhi hoặc thời thơ ấu dựa trên việc nhận diện các đặc điểm đặc trưng của hội chứng WS. Để xác nhận chẩn đoán, cần thực hiện xét nghiệm di truyền để chứng minh có sự mất đoạn 1,5 đến 1,8 Mb trên nhiễm sắc thể 7q11.23. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Đánh giá ban đầu – Sau khi chẩn đoán WS được xác nhận bằng xét nghiệm di truyền, việc đánh giá ban đầu được tiến hành để phát hiện các biến chứng lâm sàng phối hợp quan trọng, bao gồm tăng huyết áp, các bất thường về tim mạch, nội tiết và thận. (Xem thêm mục ‘Đánh giá ban đầu’ ở dưới.)
Theo dõi định kỳ – Do nguy cơ bệnh tiến triển, việc theo dõi định kỳ cần được thực hiện trong suốt cuộc đời của người bệnh. Hướng dẫn giám sát sức khỏe năm 2020 của Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ bao gồm một loạt các đánh giá dựa trên độ tuổi của bệnh nhân. Đối với mỗi nhóm tuổi, việc đánh giá bao gồm khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng toàn diện, đánh giá tăng trưởng, đo huyết áp, đánh giá phát triển, đánh giá tim mạch, cùng với tầm soát thính lực và thị lực hàng năm. Các xét nghiệm và tầm soát bổ sung sẽ tùy thuộc vào độ tuổi của bệnh nhân và kết quả của các lần xét nghiệm trước đó. (Xem thêm mục ‘Theo dõi định kỳ’ ở dưới.)
Xử trí các biến chứng cụ thể:
Phòng ngừa đột tử do tim – Bệnh nhân WS có nguy cơ đột tử do tim tăng cao trong quá trình thực hiện các thủ thuật can thiệp như thông tim và phẫu thuật. Bệnh nhân cần được đánh giá bởi bác sĩ tim mạch nhi và/hoặc bác sĩ gây mê có chuyên môn phù hợp trước bất kỳ can thiệp nào yêu cầu gây mê. (Xem thêm mục ‘Đột tử do tim’ ở dưới.)
Bất thường tim mạch – Có thể cần phẫu thuật điều chỉnh đối với bệnh nhân hẹp eo động mạch chủ trên van và hẹp động mạch phổi ngoại vi. (Xem thêm mục ‘Bất thường tim mạch’ ở dưới.)
Tăng huyết áp (xem mục ‘Tăng huyết áp’ ở dưới):
- Bệnh nhi WS tăng huyết áp nên được đánh giá các tổn thương mạch máu riêng biệt có khả năng điều chỉnh được thông qua siêu âm Doppler thận và tìm kiếm bằng chứng tổn thương cơ quan đích.
- Ở những bệnh nhân có kết quả thăm dò ban đầu âm tính, chúng tôi đề xuất liệu pháp hạ áp (Khuyến cáo 2C). Các thuốc hạ áp bao gồm thuốc chẹn kênh canxi (CCB; amlodipine, nifedipine), thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitor; enalapril), labetalol (thuốc chẹn alpha và beta), hoặc thuốc chẹn beta (ví dụ: atenolol). Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi thường sử dụng amlodipine, một thuốc chẹn kênh canxi.
Tăng canxi máu – Đối với bệnh nhân tăng canxi máu, cần kiểm tra nitơ urê máu (BUN), creatinine, nồng độ vitamin D (25-hydroxyvitamin và 1,25-dihydroxyvitamin D), hormone tuyến cận giáp (intact PTH) và tỷ lệ canxi/creatinine mẫu đơn (để phát hiện tăng canxi niệu). Cần tránh bổ sung vitamin D, bao gồm cả vitamin tổng hợp, ở trẻ em mắc hội chứng WS, và nên sử dụng kem chống nắng để giảm thiểu việc tự tổng hợp vitamin D trong cơ thể. Đối với trẻ nhũ nhi có triệu chứng, có thể áp dụng chế độ ăn ít canxi và hạn chế vitamin D nhưng chỉ dưới sự giám sát trực tiếp của bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng. (Xem thêm mục ‘Tăng nồng độ canxi’ ở dưới.)
Táo bón – Cần nhận diện và điều trị tích cực tình trạng táo bón để tránh phát triển túi thừa, trĩ và sa trực tràng.
Rối loạn đi tiểu – Đối với bệnh nhân có triệu chứng rối loạn đi tiểu hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát, các đánh giá chẩn đoán sâu hơn bao gồm chụp bàng quang – niệu quản lúc tiểu và nghiên cứu động học đường tiết niệu để xác định những trường hợp bị rối loạn chức năng bàng quang.