TÓM TẮT
Định nghĩa sốt – Nhiệt độ đo trực tràng ≥38°C (100,4°F) là tiêu chuẩn xác định sốt ở trẻ nhũ nhi ≤90 ngày tuổi. Trong trường hợp không có kết quả đo procalcitonin, ngưỡng nhiệt độ >38,5°C (101,3°F) được khuyến cáo để thực hiện đánh giá toàn diện tình trạng nhiễm khuẩn xâm lấn (IBI) ở trẻ sốt có vẻ ngoài khỏe mạnh từ 22 đến 60 ngày tuổi. (Xem thêm ‘Định nghĩa sốt’ và ‘Mức độ sốt’ ở dưới.)
Đánh giá – Việc đánh giá trẻ nhũ nhi sốt tập trung vào các dấu hiệu cho thấy nguy cơ cao nhiễm khuẩn xâm lấn (IBI; bao gồm nhiễm khuẩn huyết và/hoặc viêm màng não) hoặc nhiễm virus herpes simplex (HSV).
Hồi sức và ổn định – Lâm sàng cần nhanh chóng nhận diện và điều trị những trẻ không ổn định (bảng 3 và sơ đồ 1). (Xem thêm “Tiếp cận trẻ nhũ nhi có vẻ ngoài bệnh (dưới 90 ngày tuổi)”, phần ‘Ổn định ban đầu’.)
Tiền sử – Các thông tin quan trọng bao gồm các yếu tố nguy cơ dẫn đến IBI (bảng 1) và các dấu hiệu bệnh lý kín đáo (ví dụ: bú kém, lờ đờ và giảm hoạt động). (Xem thêm ‘Tiền sử’ ở dưới.)
Khám lâm sàng – Khám lâm sàng nên tập trung vào vẻ ngoài của trẻ và các dấu hiệu của (xem ‘Khám lâm sàng’ ở dưới):
- Nhiễm khuẩn khu trú
- Viêm tiểu phế quản
- Nhiễm HSV
Việc xác định một trẻ nhũ nhi có vẻ ngoài khỏe mạnh là rất khó khăn, đặc biệt là trước khi trẻ phát triển nụ cười xã hội (thường vào tuần thứ 6 của đời). Hơn nữa, vẻ ngoài khỏe mạnh không loại trừ khả năng trẻ nhiễm khuẩn xâm lấn. (Xem thêm ‘Vẻ ngoài’ ở dưới.)
Cận lâm sàng – Việc thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng dựa trên nguy cơ IBI:
- Nguy cơ IBI tăng – Chỉ định đánh giá nhiễm khuẩn huyết toàn diện (bảng 2) cho các trẻ sốt trong các trường hợp sau:
- Trẻ có vẻ ngoài bệnh (xem ‘Trẻ có vẻ ngoài bệnh’ ở dưới)
- Trẻ có vẻ ngoài khỏe mạnh từ 29 đến 60 ngày tuổi có các yếu tố nguy cơ IBI (bảng 1) (xem ‘Trẻ có vẻ ngoài khỏe mạnh có yếu tố nguy cơ IBI’ ở dưới)
- Bất kỳ trẻ nào có dấu hiệu gợi ý nhiễm virus herpes simplex (HSV) khi thăm khám (ví dụ: mụn nước niêm mạc da, co giật hoặc dấu hiệu thần kinh khu trú), đặc biệt là những trẻ có mẹ mang yếu tố nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con (xem “Nhiễm virus herpes simplex (HSV) sơ sinh: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Nghi ngờ lâm sàng’)
- Nguy cơ IBI thấp – Xét nghiệm ban đầu cho trẻ có vẻ ngoài khỏe mạnh, nguy cơ thấp thay đổi tùy theo độ tuổi:
- Từ 29 đến 60 ngày tuổi – Đối với trẻ khỏe mạnh, nguy cơ thấp từ 29 đến 60 ngày tuổi, chúng tôi khuyên nên đánh giá IBI theo từng bước dựa trên quy tắc dự đoán lâm sàng nguy cơ thấp của Mạng lưới Nghiên cứu Ứng dụng Chăm sóc Cấp cứu Nhi khoa (PECARN) (sơ đồ 2 và bảng 5), bao gồm cả đo procalcitonin (PCT). (Xem thêm ‘Từ 29 đến 60 ngày tuổi’ và ‘Quy tắc dự đoán lâm sàng’ ở dưới.)
- Khi không có kết quả PCT nhanh, sự kết hợp giữa nhiệt độ, protein C phản ứng (CRP) và số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối cũng giúp xác định những trẻ có nguy cơ IBI thấp (bảng 6). (Xem thêm ‘Các dấu ấn viêm’ ở dưới.)
- Từ 61 đến 90 ngày tuổi – Đối với trẻ khỏe mạnh, nguy cơ thấp từ 61 đến 90 ngày tuổi, chúng tôi thường chỉ thực hiện test dipstick nước tiểu hoặc xét nghiệm nước tiểu hiển vi và nuôi cấy nước tiểu thông qua đặt thông tiểu bàng quang, không thực hiện thêm các xét nghiệm khác. (Xem thêm ‘Từ 61 đến 90 ngày tuổi’ ở dưới.)
Đã xác định nhiễm virus – Đối với trẻ nhũ nhi sốt đã xác định nhiễm virus, hướng tiếp cận của chúng tôi phụ thuộc vào vẻ ngoài và độ tuổi của bệnh nhân. Vì nguy cơ IBI không thể bỏ qua, chúng tôi không thay đổi quy trình đánh giá đối với những trẻ sốt trong các trường hợp:
- Có vẻ ngoài bệnh (đánh giá nhiễm khuẩn huyết toàn diện)
- Có vẻ ngoài khỏe mạnh nhưng có nguy cơ IBI tăng (đánh giá nhiễm khuẩn huyết toàn diện)
- Từ 29 đến 60 ngày tuổi, vẻ ngoài khỏe mạnh và nguy cơ IBI thấp (vẫn thực hiện xét nghiệm nước tiểu và các dấu ấn viêm trong máu)
Đối với trẻ khỏe mạnh, nguy cơ thấp từ 61 đến 90 ngày tuổi, chúng tôi quyết định việc có thực hiện xét nghiệm nước tiểu hay không dựa trên đặc điểm của bệnh nhân thông qua công cụ UTICalc. Chúng tôi thực hiện xét nghiệm nước tiểu ở tất cả trẻ có tiền sử nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) hoặc có bất thường đường sinh dục tiết niệu bẩm sinh. (Xem thêm ‘Bệnh nhân đã xác định nhiễm virus’ ở dưới.)
Nhiễm trùng khu trú – Đánh giá ban đầu ở trẻ nhũ nhi sốt có nhiễm trùng khu trú và nguy cơ nhiễm khuẩn huyết cao tùy thuộc vào vẻ ngoài và loại nhiễm trùng cụ thể. (Xem thêm ‘Nhiễm trùng khu trú’ ở dưới.)
Bệnh nhân đã tiêm chủng – Các lựa chọn xét nghiệm cho trẻ sốt mới tiêm chủng từ 42 đến 90 ngày tuổi đã được cung cấp. (Xem thêm ‘Mới tiêm chủng’ ở dưới.)