TÓM TẮT
Định nghĩa và cơ chế bệnh sinh – Trào ngược bàng quang – niệu quản (VUR) là tình trạng nước tiểu chảy ngược từ bàng quang lên đường tiết niệu trên. VUR được chia thành hai loại dựa trên cơ chế bệnh sinh (xem ‘Định nghĩa và cơ chế bệnh sinh’ ở dưới):
- VUR nguyên phát: Là thể trào ngược phổ biến nhất, xảy ra do sự đóng không kín hoặc không đầy đủ của chỗ nối niệu quản – bàng quang, nơi có một đoạn niệu quản nằm trong thành bàng quang (đoạn niệu quản trong thành bàng quang) (hình 1).
- VUR thứ phát: Là kết quả của áp lực đi tiểu trong bàng quang cao bất thường, dẫn đến việc chỗ nối niệu quản – bàng quang không đóng kín được trong quá trình bàng quang co bóp.
Dịch tễ học – VUR nguyên phát xảy ra ở khoảng 1% trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, tỷ lệ tự hồi phục khi trẻ lớn lên là rất đáng kể, đặc biệt đối với những bệnh nhân trào ngược độ thấp (độ I và II). (Xem ‘Dịch tễ học’ và ‘Diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – VUR có thể được phát hiện ở giai đoạn trước sinh hoặc sau sinh (xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới):
- VUR được chẩn đoán ở khoảng 15% đến 20% trẻ sơ sinh có thận ứ nước được phát hiện trước sinh. (Xem ‘Biểu hiện trước sinh’ ở dưới và “Đánh giá và xử trí thận ứ nước sau sinh”.)
- VUR có thể được phát hiện sau một đợt nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) có sốt. (Xem ‘Biểu hiện sau sinh’ ở dưới và “Nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ sơ sinh trên một tháng tuổi và trẻ dưới hai tuổi: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”.)
- Ít phổ biến hơn, VUR có thể được phát hiện thông qua tầm soát gia đình từ một ca bệnh chỉ điểm. (Xem ‘Xét nghiệm cho các thành viên trong gia đình’ ở dưới.)
Đánh giá
- Trẻ sơ sinh có thận ứ nước chẩn đoán trước sinh – Quy trình đánh giá trẻ sơ sinh có thận ứ nước chẩn đoán trước sinh được tóm tắt trong các hình (sơ đồ 1A-B) và được thảo luận chi tiết trong một phần riêng. (Xem “Đánh giá và xử trí thận ứ nước sau sinh”.)
- Trẻ sơ sinh và trẻ em bị nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) – Các chỉ định thực hiện chụp bàng quang niệu quản ngược dòng (VCUG) sau một đợt UTI ở trẻ sơ sinh và trẻ em được xem xét riêng biệt. (Xem “Nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ sơ sinh trên một tháng tuổi và trẻ dưới hai tuổi: Xử trí cấp tính, chẩn đoán hình ảnh và tiên lượng”, phần ‘Chụp bàng quang niệu quản ngược dòng’.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán VUR được xác lập bằng phương pháp chụp VCUG có thuốc cản quang, cho thấy hình ảnh nước tiểu trào ngược từ bàng quang lên đường tiết niệu trên. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thay thế ít được sử dụng hơn để chẩn đoán VUR bao gồm siêu âm bàng quang lúc đi tiểu có cản quang (ceVUS) hoặc xạ hình bàng quang (RNC). (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Mức độ nghiêm trọng – Các hệ thống phân độ chuẩn được sử dụng để phân loại mức độ nghiêm trọng của VUR dựa trên mức độ lấp đầy ngược dòng và mức độ giãn của hệ thống thu thập ở thận (hình 2). (Xem ‘Phân độ’ ở dưới.)
Đánh giá bổ sung – Sau khi chẩn đoán VUR, cần thực hiện các đánh giá bổ sung bao gồm (xem ‘Đánh giá bổ sung’ ở dưới):
- Đo chiều cao, cân nặng và huyết áp.
- Đánh giá các triệu chứng rối loạn chức năng bàng quang và ruột (BBD; ví dụ: tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu dầm ban ngày, táo bón, són phân).
- Xét nghiệm cận lâm sàng, bao gồm tổng phân tích nước tiểu cho tất cả bệnh nhân và định lượng creatinine huyết thanh nếu tổn thương cả hai bên hoặc chỉ có một thận duy nhất.
- Siêu âm thận, nếu chưa thực hiện.
- Xạ hình thận bằng axit dimercaptosuccinic (DMSA) cho một số bệnh nhân được lựa chọn.
Biến chứng
- Trẻ bị VUR có nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát có sốt hoặc có triệu chứng, đặc biệt là những trẻ có VUR mức độ nặng. (Xem ‘Nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát’ ở dưới.)
- Mất nhu mô thận là một biến chứng tiềm tàng ở bệnh nhân VUR. Tình trạng này có thể dẫn đến suy giảm chức năng thận và ở một số cá thể bị tổn thương nặng cả hai bên, có thể tiến triển thành bệnh thận mạn. (Xem ‘Mất nhu mô thận’ ở dưới.)