TÓM TẮT
Thuật ngữ – Khối máu tụ dưới móng (tích tụ máu dưới móng tay hoặc móng chân) có thể là thể đơn thuần (tức là móng và nếp gấp móng còn nguyên vẹn (hình 1)) hoặc kèm theo các tổn thương nghiêm trọng ở nếp gấp móng và ngón (ví dụ: bong tróc đầu ngón, gãy xương Salter-Harris, ngón tay hình búa) (hình 1). Khoan móng (Trephination) là thủ thuật tạo một hoặc nhiều lỗ trên móng để dẫn lưu máu ra ngoài. (Xem mục ‘Định nghĩa’ và ‘Giải phẫu’ ở dưới.)
Đánh giá – Ngón bị tổn thương cần được khám thần kinh mạch máu toàn diện và đánh giá cụ thể gân duỗi để tìm dấu hiệu đứt gân tại khớp liên đốt xa (DIP) (ngón tay hình búa) (hình 2). Cần kiểm tra ngón để tìm dấu hiệu rách nếp gấp móng, biến dạng hoặc bong tróc. Chúng tôi chỉ định chụp X-quang cho tất cả bệnh nhân có khối máu tụ dưới móng kích thước lớn vì gãy xương kèm theo rất phổ biến, đặc biệt là khi khối máu tụ chiếm hơn 50% diện tích phiến móng. (Xem mục ‘Đánh giá’ ở dưới.)
Khoan móng
Chỉ định – Thực hiện khoan móng cho các khối máu tụ dưới móng ở giai đoạn cấp tính (dưới 24 đến 48 giờ), không kèm theo gãy xương Salter-Harris hoặc gãy xương di lệch, không tự dẫn lưu, nếp gấp móng còn nguyên vẹn và gây đau. Sau 48 giờ, hầu hết các khối máu tụ dưới móng đã đông lại, nên việc khoan móng thường không còn hiệu quả. (Xem mục ‘Khoan móng’ ở dưới.)
Khối máu tụ lớn hoặc có gãy xương kèm theo – Ở những bệnh nhân có khối máu tụ dưới móng lớn hoặc gãy xương không di lệch kèm theo nhưng nếp gấp móng vẫn nguyên vẹn, chúng tôi đề xuất chỉ thực hiện khoan móng thay vì nhổ móng và khâu phục hồi giường móng. Các bằng chứng ủng hộ việc chỉ khoan móng được trình bày ở phần khác. (Xem mục ‘Nhổ móng’ ở dưới và “Đánh giá và xử trí tổn thương đầu ngón”, phần ‘Lựa chọn thủ thuật’.)
Kỹ thuật – Đối với bệnh nhân có khối máu tụ dưới móng đơn thuần và gây đau, chúng tôi đề xuất phương pháp khoan móng tránh gây áp lực lớn lên phiến móng và giường móng, thay vì dùng kim khoan xuyên móng vì dễ gây đau hơn (Khuyến cáo 2C). Các phương pháp tránh gây áp lực bao gồm (xem mục ‘Quy trình’ ở dưới):
- Đốt bằng thiết bị đốt điện hoặc laser carbon (hình 3) (KHÔNG sử dụng kẹp giấy nung nóng làm thiết bị đốt).
- Hút bằng kim tiêm insulin (chỉ áp dụng cho khối máu tụ ở vùng móng xa) (hình 1).
- Chọc móng bằng thiết bị mesoscission (hình 8 và hình 7).
Nhổ móng – Cần thực hiện nhổ móng và khâu phục hồi rách giường móng khi tổn thương móng đe dọa đến việc bảo tồn móng hoặc ngón (ví dụ: tổn thương nếp gấp móng kèm rách giường móng nghiêm trọng, thường đi kèm với bong tróc đầu ngón tay hoặc ngón chân). Chỉ định nhổ móng và xử trí rách giường móng được thảo luận chi tiết ở phần khác. (Xem “Đánh giá và xử trí tổn thương đầu ngón”, phần ‘Lựa chọn thủ thuật’.)
Chỉ định hội chẩn phẫu thuật bàn tay – Những bệnh nhân có vết thương nhiễm trùng, tổn thương giường móng diện rộng, hoặc gãy xương di lệch/gãy xương nội khớp cần được phẫu thuật viên bàn tay đánh giá. Khối máu tụ dưới móng kèm gãy xương Salter-Harris (gãy xương Seymour) cũng cần được hội chẩn chuyên khoa phẫu thuật bàn tay. (Xem mục ‘Hội chẩn hoặc chuyển tuyến chuyên khoa’ ở dưới.)
Kháng sinh dự phòng – Việc sử dụng kháng sinh dự phòng cho bệnh nhân có khối máu tụ dưới móng thay đổi tùy theo các yếu tố của bệnh nhân và đặc điểm tổn thương (xem mục ‘Kháng sinh dự phòng’ ở dưới):
- Với bệnh nhân có khối máu tụ dưới móng đơn thuần, nếp gấp móng nguyên vẹn và không gãy xương đốt xa (bất kể có khoan móng hay không), chúng tôi đề xuất không dùng kháng sinh dự phòng (Khuyến cáo 2C).
- Với bệnh nhân gãy xương đốt xa (ví dụ: gãy Tuft) kèm khối máu tụ dưới móng và không có bệnh lý nền, chúng tôi đề xuất không dùng kháng sinh dự phòng (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, đây là một ca gãy xương hở; do đó, kháng sinh dự phòng là một lựa chọn hợp lý cho bệnh nhân có bệnh lý nền (ví dụ: đái tháo đường hoặc suy giảm miễn dịch khác).
- Kháng sinh dự phòng và chuyển tuyến chuyên khoa cũng được chỉ định cho trẻ em có khối máu tụ dưới móng kèm gãy xương Salter-Harris (gãy xương Seymour) vì trường hợp này được coi là gãy xương hở.
Dự phòng uốn ván – Tất cả bệnh nhân có khối máu tụ dưới móng cần được đánh giá tình trạng tiêm phòng uốn ván và thực hiện dự phòng nếu cần thiết (bảng 1). (Xem mục “Uốn ván”.)
Chăm sóc theo dõi – Sau khi khoan móng, bệnh nhân cần được hướng dẫn giữ ngón bị tổn thương sạch và khô; không cần ngâm nước. Các trường hợp gãy xương đốt xa không di lệch nên được bó nẹp cố định khớp DIP ở tư thế duỗi trong 3 đến 4 tuần. (Xem mục ‘Chăm sóc theo dõi’ ở dưới.)