TÓM TẮT
Đánh giá – Việc đánh giá tình trạng sưng hoặc đau bìu không do chấn thương nên bắt đầu bằng cách khai thác bệnh sử tập trung và khám cơ quan sinh dục toàn diện. (Xem thêm phần ‘Bệnh sử’ và ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
Tiếp cận chẩn đoán – Phương pháp tiếp cận chẩn đoán tùy thuộc vào chẩn đoán nghi ngờ và sự hiện diện của triệu chứng đau.
Bìu đau không do chấn thương – Tình trạng bìu đau không do chấn thương đòi hỏi một quy trình chẩn đoán nhanh (sơ đồ 1). (Xem thêm phần ‘Bìu đau’ ở dưới.)
Xoắn tinh hoàn (khả năng cao dựa trên biểu hiện lâm sàng) – Khi các dấu hiệu lâm sàng khẳng định xoắn tinh hoàn (ví dụ: đau tinh hoàn dữ dội khởi phát cấp tính kèm theo buồn nôn hoặc nôn, mất phản xạ cơ nâng bìu, tinh hoàn sưng đau khi khám với vị trí nằm cao hoặc nằm ngang) (hình 1), bác sĩ lâm sàng cần hội chẩn khẩn cấp với phẫu thuật viên chuyên khoa tiết nhi để đánh giá bệnh nhân và quyết định phẫu thuật thăm dò, điều trị. (Xem “Nguyên nhân gây đau bìu ở trẻ em và trẻ vị thành niên”, phần ‘Điều trị’.)
Các bác sĩ giàu kinh nghiệm có thể thử thực hiện thủ thuật tháo xoắn bằng tay dưới an thần trong khi chờ phẫu thuật viên hội chẩn đến. (Xem “Nguyên nhân gây đau bìu ở trẻ em và trẻ vị thành niên”, phần ‘Tháo xoắn bằng tay’.)
Đau tinh hoàn (biểu hiện không điển hình hoặc khả năng xoắn tinh hoàn thấp) – Những bệnh nhân có tình trạng đau tinh hoàn nhưng biểu hiện lâm sàng không rõ ràng hoặc ít khả năng xoắn tinh hoàn cần được xét nghiệm nước tiểu và siêu âm Doppler bìu cấp cứu. (Xem thêm phần ‘Bìu đau’ ở dưới.)
Ba nguyên nhân gây đau tinh hoàn thường gặp nhất (xoắn tinh hoàn, xoắn tinh hoàn phụ hoặc xoắn mào tinh hoàn, và viêm mào tinh hoàn) thường được phân biệt thông qua sự kết hợp giữa bệnh sử, khám lâm sàng, siêu âm Doppler màu, xét nghiệm nước tiểu và xét nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục đối với những bệnh nhân có bạch cầu trong nước tiểu (bảng 1). (Xem “Nguyên nhân gây đau bìu ở trẻ em và trẻ vị thành niên”.)
Thoát vị bẹn nghẹt – Thoát vị bẹn nghẹt thường gặp ở trẻ nhũ nhi với biểu hiện quấy khóc kèm theo một khối u vùng bẹn chắc, khu trú, có thể lan xuống bìu. Khối thoát vị sưng đau, vùng da phủ phía trên phù nề, đỏ hoặc tím sẫm. Triệu chứng nôn và/hoặc chướng bụng cho thấy tình trạng nghẹt kéo dài gây tắc ruột. Bác sĩ lâm sàng nên thử đẩy thoát vị về vị trí cũ, quá trình này có thể được hỗ trợ bằng kiểm soát đau (ví dụ: fentanyl xịt mũi hoặc tiêm tĩnh mạch) và các biện pháp tại chỗ (chườm lạnh vùng bẹn trong vài phút và đặt tư thế Reverse Trendelenburg) (hình 4 và hình 5). Nếu không thể đẩy thoát vị về, cần hội chẩn khẩn cấp với phẫu thuật viên chuyên khoa tiết nhi để điều trị dứt điểm. (Xem “Thoát vị bẹn ở trẻ em”, phần ‘Thoát vị bẹn nghẹt’.)
Sưng bìu không đau – Ở những bệnh nhân sưng bìu không đau, việc khám cơ quan sinh dục kỹ lưỡng thường giúp đưa ra chẩn đoán chính xác (sơ đồ 2). (Xem thêm phần ‘Sưng bìu không đau’ ở dưới.)