TÓM TẮT
Tổng quan – Các bệnh lý âm hộ âm đạo thường gặp ở trẻ tiền dậy thì bao gồm viêm âm hộ âm đạo không đặc hiệu và do nhiễm trùng, dị vật âm đạo, dính môi bé và chấn thương âm hộ. Viêm âm hộ âm đạo ở trẻ gái tiền dậy thì được thảo luận trong một mục riêng. (Xem “Viêm âm hộ âm đạo ở trẻ tiền dậy thì: Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và điều trị”.)
Dị vật âm đạo – Dị vật ở trẻ gái tiền dậy thì có thể gây viêm âm hộ âm đạo cấp tính hoặc tái phát mạn tính, đôi khi kèm theo xuất huyết. Triệu chứng đau và tiết dịch màu xám, dạng nước gợi ý có pin cúc áo trong âm đạo. Chẩn đoán được xác nhận khi quan sát thấy dị vật trong quá trình thăm khám (trẻ ở tư thế gối – ngực (hình 1)). Chụp X-quang khung chậu có thể phát hiện pin cúc áo. Việc xử trí tùy thuộc vào loại và kích thước của dị vật âm đạo (xem mục ‘Dị vật âm đạo’ ở dưới):
- Pin cúc áo – Pin cúc áo cần được lấy ra khẩn cấp dưới gây mê toàn thân bởi bác sĩ sản nhi hoặc phẫu thuật viên có chuyên môn tương đương.
- Các loại dị vật khác – Sau khi bôi một lượng nhỏ thuốc tê tại chỗ vào cửa mình, thường có thể lấy dị vật tại giường đối với các trường hợp dị vật là giấy vệ sinh hoặc các vật nhỏ khác. Những dị vật kích thước lớn, bị kẹt sâu hoặc không thể lấy tại giường cần được can thiệp dưới an thần hoặc gây mê toàn thân.
Dính môi bé – Dính môi bé được chẩn đoán thông qua thăm khám cơ quan sinh dục thường quy (hình 13). Hướng xử trí dính môi bé được xác định dựa trên sự hiện diện và mức độ của các triệu chứng (sơ đồ 1). (Xem mục ‘Dính môi bé’ ở dưới.)
Đối với trẻ gái có dính môi bé kèm triệu chứng (ví dụ: đau hoặc tiết dịch âm đạo, dính môi bé lan rộng, làm lệch dòng nước tiểu, hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu/âm đạo tái phát), chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng estrogen tại chỗ (ví dụ: kem estrogen hoặc estradiol 0,01%) hoặc corticosteroid tại chỗ (ví dụ: kem betamethasone 0,05%) (Khuyến cáo 2C). Cần tránh sử dụng kem betamethasone kéo dài (>3 tháng) để ngăn ngừa teo da và hấp thu corticosteroid toàn thân.
Nếu tình trạng dính không cải thiện sau 4 đến 8 tuần điều trị tại chỗ đúng cách, nên chuyển sang loại kem thay thế trong 2 đến 4 tuần tiếp theo. Nếu vẫn không có cải thiện, bệnh nhân cần được chuyển đến chuyên gia về sản nhi.
Chấn thương âm hộ – Chấn thương âm hộ không chủ ý thường xảy ra sau chấn thương kiểu cưỡi (straddle injury), biểu hiện bằng các vết bầm tím hoặc rách ở phía trước vùng gò mu, mũ âm vật và/hoặc mặt trước môi bé (hình 1A-E). Tổn thương ở vùng phanh sau và màng trinh gợi ý khả năng bị lạm dụng tình dục (hình 2A-B). Việc đánh giá và xử trí chấn thương kiểu cưỡi được thảo luận chi tiết trong một mục riêng. (Xem “Chấn thương kiểu cưỡi ở trẻ em: Đánh giá và xử trí”.)
Các tình trạng khác – Một số tình trạng quan trọng khác bao gồm:
- Loét âm hộ – Các nguyên nhân quan trọng bao gồm virus herpes simplex (HSV), loét cơ quan sinh dục cấp tính (loét Lipschütz), bệnh Crohn và hội chứng Behçet. (Xem mục ‘Loét âm hộ’ ở dưới.)
- Bệnh lý da âm hộ – Ngứa và phát ban âm hộ thường do viêm da tiết bã và viêm da cơ địa. Các nguyên nhân quan trọng khác bao gồm nhiễm trùng toàn thân (ví dụ: sởi, thủy đậu, hoặc phát ban và viêm niêm mạc do Mycoplasma pneumoniae), hội chứng Stevens-Johnson, xơ cứng lichen, thiếu kẽm và dị ứng niken. (Xem mục ‘Bệnh lý da âm hộ’ và ‘Bệnh lý toàn thân’ ở dưới.)
- U âm đạo và âm hộ – Các khối u âm hộ hiếm gặp, bao gồm (xem mục ‘U âm đạo và âm hộ’ ở dưới):
- U lành tính như u nhú/polyp âm đạo lành tính, u xơ thần kinh da, hoặc viêm cân nodular.
- U ác tính như sarcoma botryoides (hình 11), u xoang nội bì, u tế bào hạt hoặc leiomyosarcoma.
- Bất thường đường tiết niệu – Các bất thường hệ sinh dục tiết niệu có thể gây ra các triệu chứng tại âm hộ âm đạo bao gồm:
- Niệu quản lạc chỗ – Niệu quản lạc chỗ biểu hiện bằng tình trạng kích ứng và ẩm ướt mạn tính vùng âm hộ. (Xem mục ‘Niệu quản lạc chỗ’ ở dưới.)
- Sa niệu đạo – Trên lâm sàng, sa niệu đạo biểu hiện bằng một khối hình nhẫn màu đỏ sẫm hoặc tím tại vị trí niệu đạo (hình 12). Liệu pháp hormone tại chỗ có hiệu quả điều trị ở hầu hết bệnh nhân. Trường hợp sa niệu đạo kéo dài hoặc kèm theo hoại tử niệu đạo xa cần được chuyển đến bác sĩ tiết niệu nhi khoa. (Xem mục ‘Sa niệu đạo’ ở dưới.)