TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng – Trẻ gãy thân xương cẳng tay thường có tiền sử ngã chống tay, nhập viện với tình trạng sưng, đau và biến dạng vùng giữa cẳng tay, kèm theo hạn chế tầm vận động của bàn tay, cổ tay và khuỷu tay. (Xem thêm ‘Cơ chế chấn thương’ và ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
Khám thực thể – Bệnh nhân gãy thân xương cẳng tay thường cần sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid (ví dụ: fentanyl đường xịt mũi hoặc truyền tĩnh mạch) trước khi tiến hành thăm khám và chẩn đoán hình ảnh. Bác sĩ lâm sàng cần kiểm tra toàn bộ cẳng tay để tìm dấu hiệu gãy hở (vết thương xuyên thấu tại vị trí gãy có chảy máu), đánh giá mạch ngoại vi, kiểm tra chức năng thần kinh (đặc biệt là dây thần kinh giữa) (bảng 1), đồng thời xác định xem có tổn thương phối hợp ở cổ tay, khuỷu tay, xương đòn hoặc khớp vai cùng bên hay không. (Xem thêm ‘Giảm đau và nẹp cố định’ và ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
Sau khi thăm khám, bác sĩ nên đặt nẹp và/hoặc dùng đai treo tay để bệnh nhân dễ chịu hơn và ngăn ngừa di lệch thêm vị trí gãy. Tình trạng thần kinh mạch máu cần được kiểm tra cả trước và sau khi nẹp.
Chẩn đoán hình ảnh – Hình ảnh học giúp xác nhận chẩn đoán lâm sàng gãy thân xương cẳng tay. Bệnh nhân cần được chụp X-quang quy ước tư thế trước-sau (AP) và nghiêng chuẩn của cẳng tay bị tổn thương, bao gồm cả vùng cổ tay và đầu dưới xương cánh tay (hình 3 và hình 4). (Xem thêm ‘Các tư thế chụp X-quang và đọc kết quả’ ở dưới.)
Các loại gãy thân xương cẳng tay đặc thù bao gồm:
- Gãy uốn cong (biến dạng dẻo) (hình 5) (xem phía trên)
- Gãy cành tươi (hình 6) (xem phía trên)
- Gãy hoàn toàn (hình 8) (xem phía trên)
- Gãy nhiều mảnh (xem phía trên)
Sự kết hợp giữa gãy trên lồi cầu xương cánh tay và gãy xương cẳng tay được gọi là “khuỷu tay trôi” (floating elbow), làm tăng nguy cơ xảy ra hội chứng chèn ép khoang. (Xem thêm ‘Các tổn thương phối hợp’ và ‘Hội chứng chèn ép khoang’ ở dưới.)
Điều trị ban đầu – Cần hội chẩn cấp cứu chấn thương chỉnh hình cho trẻ có bất kỳ tình trạng nào sau đây (xem phía trên):
- Gãy hở – Xử trí gãy hở bao gồm dùng kháng sinh tĩnh mạch, dự phòng uốn ván và hội chẩn cấp cứu chấn thương chỉnh hình. (Xem “Nguyên tắc chung trong quản lý gãy xương: Biến chứng sớm và muộn”, mục ‘Gãy hở’.)
- Mất mạch – Trẻ suy giảm tưới máu có thể cần nắn kín một phần ngay tại khoa cấp cứu để cố gắng tái lập tuần hoàn vùng xa. Những bệnh nhân có bàn tay lạnh, tím tái dù đã nắn chỉnh cần được phẫu thuật thăm dò và sửa chữa mạch máu khẩn cấp. (Xem thêm ‘Mất mạch’ ở dưới.)
- Hội chứng chèn ép khoang – Khi nghi ngờ hội chứng chèn ép khoang, cần đo áp lực khoang ngay lập tức. Sau khi được xác nhận bằng đo áp lực hoặc đánh giá lâm sàng, xử trí ban đầu bao gồm giải phóng tất cả các áp lực bên ngoài tác động lên khoang. Điều trị triệt để là phẫu thuật rạch giải áp (fasciotomy) toàn bộ các khoang bị ảnh hưởng. (Xem thêm ‘Hội chứng chèn ép khoang’ ở dưới và “Hội chứng chèn ép khoang cấp tính ở chi”.)
- Gãy xương phối hợp – Gãy xương cẳng tay kèm theo trật khớp cổ tay, trật khớp khuỷu hoặc gãy trên lồi cầu xương cánh tay.
Điều trị triệt để – Nắn kín kết hợp bó bột hoặc nẹp cố định là phương pháp điều trị triệt để cho hầu hết trẻ em gãy thân xương cẳng tay. Tiêu chuẩn để chỉ định nắn chỉnh thay vì chỉ cố định đơn thuần sẽ tùy thuộc vào loại gãy. Cần mời phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình can thiệp kịp thời cho bất kỳ bệnh nhân nào có gãy thân xương cẳng tay bị di lệch hoặc gập góc, mặc dù bác sĩ cấp cứu có đào tạo và kinh nghiệm về nhi khoa có thể thực hiện nắn kín ban đầu. (Xem thêm ‘Điều trị triệt để’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân gãy thân xương không di lệch hoặc di lệch tối thiểu, bác sĩ cấp cứu có thể cố định bằng nẹp dài cánh tay hoặc bó bột kèm đai treo, sau đó hẹn tái khám với phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình chuyên khoa nhi trong vòng một tuần. (Xem thêm ‘Nguyên tắc cơ bản về cố định và bó bột’ và ‘Theo dõi sau điều trị’ ở dưới.)