Gãy thân xương cánh tay ở trẻ em

TÓM TẮT

Cơ chế chấn thương – Gãy thân xương cánh tay là chấn thương ít gặp ở trẻ em, thường xảy ra do ngã chống tay hoặc va đập trực tiếp vào vùng cánh tay. (Xem ‘Giải phẫu liên quan’‘Cơ chế chấn thương’ ở dưới.)

Ở một đứa trẻ khỏe mạnh có mật độ xương bình thường trên X-quang, nếu cơ chế chấn thương không phù hợp với tình trạng gãy thân xương cánh tay, cần nghi ngờ khả năng ngược đãi trẻ em. Khi đó, cần phối hợp với đội ngũ bảo vệ trẻ em đa chuyên khoa để đánh giá thêm, đặc biệt là ở trẻ dưới hai tuổi. Chấn thương do ngược đãi cũng có thể gây ra các kiểu gãy ngang, gãy chéo hoặc gãy bong mảnh góc hành xương (hình 2). (Xem “Khía cạnh chỉnh hình trong ngược đãi trẻ em”, phần ‘Gãy xương cánh tay’“Ngược đãi thể chất ở trẻ em: Đánh giá chẩn đoán và quản lý”.)

Thăm khám lâm sàng – Trẻ gãy thân xương cánh tay thường có biểu hiện sưng và đau vùng giữa cánh tay. (Xem ‘Thăm khám lâm sàng’ ở dưới.)

Việc đánh giá chi tiết tình trạng thần kinh mạch máu là rất quan trọng để phát hiện tổn thương dây thần kinh quay, biểu hiện qua tình trạng mất cảm giác vùng mu bàn tay giữa xương bàn ngón I và II, cùng với khiếm khuyết vận động như giảm khả năng duỗi ngón cái, duỗi cổ tay và giảm khả năng ngửa cẳng tay. (Xem ‘Thăm khám lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán và chẩn đoán hình ảnh – Chụp X-quang xương cánh tay thường quy (tư thế thẳng và nghiêng) thường đủ để chẩn đoán gãy thân xương cánh tay (hình 1hình 2). Cần cho trẻ dùng thuốc giảm đau trước khi chụp X-quang (ví dụ: fentanyl xịt mũi hoặc fentanyl/morphine đường tĩnh mạch cho trường hợp đau nặng, hoặc ibuprofen đường uống cho trường hợp đau nhẹ đến trung bình). Các ca gãy thân xương được phân loại mô tả theo vị trí giải phẫu, kiểu gãy, mức độ di lệch và góc gập góc (hình 2). (Xem ‘Chẩn đoán và chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Xử trí – Điều trị ban đầu cho gãy thân xương cánh tay bao gồm giảm đau, cố định bằng đai treo và băng cố định thân mình (sling and swath) hoặc đai cố định khớp vai, sau đó là chẩn đoán hình ảnh. Đa số các trường hợp này chỉ cần cố định đơn thuần mà không cần can thiệp phẫu thuật. Phương pháp cố định tùy thuộc vào độ tuổi (xem ‘Trẻ nhũ nhi’‘Chỉ cố định đơn thuần’ ở dưới):

  • Trẻ nhũ nhi: Dùng đai treo và băng cố định thân mình, quấn cánh tay vào thân bằng băng thun (hình 3)
  • Trẻ em hoặc thanh thiếu niên: Dùng đai treo và băng cố định thân mình, đai treo kiểu collar and cuff (hình 4), hoặc đai cố định khớp vai

Các trường hợp gãy thân xương có biến dạng lâm sàng hoặc gập góc trên 20 độ ở trẻ em và trên 10 độ ở thanh thiếu niên cần hội chẩn với bác sĩ chấn thương chỉnh hình để nắn kín. (Xem ‘Nắn kín’ ở dưới.)

Bệnh nhân được điều trị bằng cố định đơn thuần hoặc nắn kín rồi cố định cần tái khám với bác sĩ chỉnh hình nhi trong vòng 7 đến 10 ngày. (Xem ‘Chăm sóc theo dõi’ ở dưới.)

Ngoài những trường hợp cần nắn kín, bác sĩ cấp cứu nên hội chẩn chỉnh hình kịp thời đối với các bệnh nhân gặp các tổn thương sau (xem ‘Hội chẩn chỉnh hình’ ở dưới):

  • Gãy xương hở
  • Gãy xương kèm tổn thương thần kinh mạch máu (tổn thương dây thần kinh quay)
  • Gãy xương di lệch hoàn toàn
  • Gãy xương có dấu hiệu hội chứng chèn ép khoang (hiếm gặp trong gãy thân xương cánh tay)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here