TÓM TẮT
- Mục tiêu điều trị – Mục tiêu của điều trị hen là giảm thiểu tình trạng suy giảm chức năng do các triệu chứng, hạn chế nguy cơ xảy ra các biến cố bất lợi liên quan đến hen (ví dụ: nhập viện, suy giảm chức năng phổi) và giảm tối đa tác dụng phụ của thuốc điều trị, đặc biệt là glucocorticoid. Các mục tiêu cá nhân của bệnh nhân cũng cần được kết hợp vào quá trình ra quyết định quản lý hen. (Xem thêm ‘Mục tiêu điều trị hen’ ở dưới.)
- Giáo dục bệnh nhân và kế hoạch hành động – Bệnh nhân cần được hướng dẫn cách theo dõi kiểm soát hen tại nhà, bao gồm tần suất và mức độ nghiêm trọng của tình trạng khó thở, ho, tức ngực và nhu cầu sử dụng thuốc cắt cơn. (Xem thêm ‘Các thành phần của giáo dục và tự quản lý hen’ ở dưới và “Giáo dục và tự quản lý hen”.)
- Kỹ thuật sử dụng bình xịt/hít – Kỹ thuật sử dụng cho từng loại bình xịt/hít cần được hướng dẫn thực hành và rà soát lại cùng với bệnh nhân. Việc cho bệnh nhân xem video hướng dẫn sử dụng từng loại thiết bị cụ thể thường mang lại hiệu quả cao (ví dụ: bình xịt định liều có buồng đệm, Diskus, Ellipta, Redihaler, Respimat) hoặc máy phun khí dung. (Xem thêm ‘Kỹ thuật sử dụng bình xịt/hít’ ở dưới, “Sử dụng thiết bị hít ở người lớn”, “Sử dụng thiết bị hít ở trẻ em”, “Giáo dục bệnh nhân: Kỹ thuật sử dụng bình xịt/hít ở người lớn (Nâng cao)” và “Giáo dục bệnh nhân: Kỹ thuật sử dụng bình xịt/hít hen ở trẻ em (Nâng cao)”.)
- Kế hoạch hành động hen – Bệnh nhân cần được cung cấp một kế hoạch hành động hen cá nhân hóa với hướng dẫn chi tiết về việc điều chỉnh thuốc điều trị dựa trên sự thay đổi của triệu chứng và/hoặc chức năng phổi (mẫu 1 và mẫu 2). (Xem thêm ‘Kế hoạch hành động hen’ ở dưới.)
- Nhận diện và kiểm soát các yếu tố khởi phát hen – Cần xác định và giải quyết các yếu tố khởi phát từ môi trường (bảng 2) và các bệnh đồng mắc (bảng 18) gây cản trở việc kiểm soát hen hiệu quả cho từng bệnh nhân. (Xem thêm ‘Kiểm soát các yếu tố khởi phát hen’ ở dưới, “Kiểm soát yếu tố khởi phát để tăng cường quản lý hen”, “Tránh tác nhân gây dị ứng trong điều trị hen và viêm mũi dị ứng” và “Liệu pháp miễn dịch dưới da (SCIT) cho viêm mũi kết mạc dị ứng và hen: Chỉ định và hiệu quả”.)
- Tiêm chủng và chiến lược kháng virus – Nhiễm trùng đường hô hấp là yếu tố khởi phát hen phổ biến. Các bác sĩ lâm sàng nên khuyến khích mạnh mẽ việc tiêm phòng theo độ tuổi đối với cúm, phế cầu, ho gà, SARS-CoV-2 và virus hợp bào hô hấp (RSV) cho tất cả bệnh nhân hen. (Xem thêm ‘Tiêm chủng và chiến lược kháng virus’ ở dưới, “Tiêm chủng tiêu chuẩn cho trẻ em và trẻ vị thành niên: Tổng quan”, “Tiêm chủng tiêu chuẩn cho người lớn không mang thai” và “Tiêm chủng trong thời kỳ mang thai”.)
- Khởi đầu liệu pháp dược lý
Việc đánh giá triệu chứng, chức năng phổi và nguy cơ kịch phát đóng vai trò hướng dẫn cường độ điều trị cần thiết để kiểm soát tốt bệnh hen. Lựa chọn thuốc ban đầu cũng dựa trên độ tuổi, nguyện vọng của bệnh nhân hoặc người chăm sóc, và khả năng tiếp cận thuốc (đối với người lớn và trẻ vị thành niên (bảng 11); trẻ từ 4 đến 11 tuổi (bảng 4); trẻ nhũ nhi và trẻ tập đi (bảng 5)). (Xem thêm ‘Khởi đầu điều trị dược lý’ ở dưới.)
Tiếp cận quản lý dược lý ban đầu cho người lớn, trẻ vị thành niên và trẻ em mắc hen được thảo luận chi tiết hơn trong các phần riêng biệt. (Xem “Khởi đầu liệu pháp hen và theo dõi ở trẻ vị thành niên và người lớn”, “Hen ở trẻ dưới 12 tuổi: Điều trị cắt cơn cho các triệu chứng cấp tính”, phần ‘Điều trị cắt cơn’ và “Hen ở trẻ dưới 12 tuổi: Quản lý hen dai dẳng bằng liệu pháp kiểm soát”, phần ‘Khởi đầu liệu pháp kiểm soát’.)
- Liệu pháp cắt cơn – Tất cả bệnh nhân hen cần được tiếp cận ngay lập tức với thuốc giãn phế quản hít có tác dụng nhanh để làm giảm nhanh các triệu chứng hen. Các lựa chọn bao gồm thuốc kích thích beta-2 tác dụng ngắn (SABA) hoặc phối hợp thuốc kích thích beta-2 tác dụng nhanh với glucocorticoid hít (bảng 12 và bảng 13). Việc sử dụng các tác nhân chứa glucocorticoid hít (“liệu pháp cắt cơn kháng viêm” [AIR]) đã được khuyến cáo bởi các hướng dẫn quốc gia và quốc tế nhờ khả năng giảm tỷ lệ kịch phát trên nhiều mức độ nghiêm trọng của hen khác nhau.
- Thuốc kiểm soát – Trong khi những bệnh nhân ít triệu chứng và có nguy cơ kịch phát thấp thường có thể quản lý bằng liệu pháp cắt cơn khi cần (AIR hoặc chỉ dùng SABA), những bệnh nhân có bệnh lý diễn tiến nặng hơn thường được quản lý bằng thuốc kiểm soát định kỳ (bảng 11, bảng 4 và bảng 5). Các thuốc kiểm soát phổ biến nhất là glucocorticoid hít (bảng 14 và bảng 15), thuốc kích thích beta-2 tác dụng kéo dài hít (LABA; luôn sử dụng phối hợp với glucocorticoid hít) (bảng 16 và bảng 17), hoặc thuốc kháng thụ thể leukotriene đường uống.
- Theo dõi định kỳ
Quản lý hen hiệu quả đòi hỏi một tiếp cận dự phòng, với các lần tái khám định kỳ để đánh giá triệu chứng và chức năng phổi, rà soát kiểm soát tiếp xúc với các yếu tố khởi phát và ảnh hưởng của các bệnh đồng mắc, điều chỉnh thuốc và tiếp tục giáo dục bệnh nhân. (Xem thêm ‘Theo dõi định kỳ’ ở dưới.)
Việc đánh giá kiểm soát hen phụ thuộc vào triệu chứng hen của bệnh nhân và nguy cơ kịch phát trong tương lai (đối với người lớn và trẻ vị thành niên (bảng 9); trẻ từ 4 đến 11 tuổi (bảng 7); trẻ nhũ nhi và trẻ tập đi (bảng 8)). Các yếu tố nguy cơ kịch phát (bảng 1) cần được rà soát ngay cả ở những bệnh nhân đang kiểm soát tốt triệu chứng. (Xem “Theo dõi và điều chỉnh liều liệu pháp hen ở trẻ vị thành niên và người lớn”, phần ‘Kiểm soát triệu chứng hen’ và “Hen ở trẻ dưới 12 tuổi: Tổng quan về khởi đầu liệu pháp và theo dõi kiểm soát”, phần ‘Đánh giá kiểm soát’.)
- Điều chỉnh thuốc kiểm soát – Đối với những bệnh nhân đang sử dụng một hoặc nhiều thuốc kiểm soát, liệu pháp được điều chỉnh theo bậc thang: tăng thuốc cho đến khi hen được kiểm soát, sau đó giảm thuốc khi có thể để giảm thiểu tác dụng phụ. Các bậc điều trị được mô tả trong hướng dẫn của Chương trình Giáo dục và Phòng ngừa Hen Quốc gia (NAEPP) và Sáng kiến Toàn cầu về Hen (GINA) (đối với người lớn và trẻ vị thành niên (bảng 6) và bản [rút gọn] (bảng 19); trẻ từ 4 đến 11 tuổi (bảng 4); trẻ nhũ nhi và trẻ tập đi (bảng 5)). (Xem thêm ‘Theo dõi định kỳ’ ở dưới, “Theo dõi và điều chỉnh liều liệu pháp hen ở trẻ vị thành niên và người lớn”, “Hen ở trẻ dưới 12 tuổi: Tổng quan về khởi đầu liệu pháp và theo dõi kiểm soát”, phần ‘Đánh giá kiểm soát’, “Hen ở trẻ dưới 12 tuổi: Tổng quan về khởi đầu liệu pháp và theo dõi kiểm soát”, phần ‘Theo dõi và điều chỉnh liều’, “Hen ở trẻ dưới 12 tuổi: Quản lý hen dai dẳng bằng liệu pháp kiểm soát”, phần ‘Liệu pháp tăng bậc’ và “Hen ở trẻ dưới 12 tuổi: Quản lý hen dai dẳng bằng liệu pháp kiểm soát”, phần ‘Liệu pháp giảm bậc’.)
- Chuyển tuyến chuyên khoa – Các chỉ định chuyển tuyến đến bác sĩ hô hấp hoặc bác sĩ dị ứng/miễn dịch học bao gồm: không chắc chắn về chẩn đoán hen, hen kiểm soát kém, từng có cơn hen gần gây tử vong, cần thực hiện các thăm dò chẩn đoán chuyên sâu (ví dụ: test lẩy da dị ứng, nội soi phế quản), có tiềm năng điều trị bằng thuốc sinh học, hoặc điều trị các bệnh đồng mắc. (Xem thêm ‘Khi nào cần chuyển tuyến’ ở dưới.)