TÓM TẮT
Cơ chế chấn thương – Các nguyên nhân thường gặp nhất gây gãy xương bàn chân và xương ngón chân bao gồm (xem ‘Cơ chế chấn thương’ ở dưới):
- Lực nén trục (ví dụ: vấp ngón chân)
- Chấn thương dạng dang, thường liên quan đến ngón thứ năm
- Chấn thương dập nát do vật nặng rơi vào chân hoặc do bánh xe ô tô cán qua chân
Biểu hiện lâm sàng và thăm khám – Sau gãy xương ngón hoặc xương bàn chân, tình trạng xuất huyết dưới da và sưng nề thường xuất hiện trong vòng vài giờ đầu sau chấn thương. Thăm khám bằng cách sờ nắn dọc theo bàn chân hoặc ngón chân thường phát hiện điểm đau chói tại vị trí gãy. Ấn đau tại nền xương bàn chân thứ năm sau chấn thương lật trong gợi ý cao đến gãy xương. Tụ máu dưới móng thường là dấu hiệu của gãy đốt ngón xa (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng và thăm khám’ ở dưới và “Tụ máu dưới móng”).
Chẩn đoán hình ảnh – Chúng tôi khuyến cáo chụp X-quang quy ước, bao gồm các tư thế trước-sau, nghiêng và chếch cho những bệnh nhân có tình trạng đau nhiều, sưng hoặc biến dạng vùng bàn chân và ngón chân. Các dạng tổn thương thường gặp bao gồm gãy sụn tăng trưởng (hình 3), gãy cành tươi (buckle fracture) và gãy vỏ xương (Xem ‘Kết quả X-quang’ ở dưới).
Các tình trạng cấp cứu – Bác sĩ lâm sàng nên hội chẩn chấn thương chỉnh hình cấp cứu đối với những bệnh nhân có tổn thương mạch máu, hội chứng khoang hoặc gãy hở xương bàn chân hoặc đốt ngón gần (Xem ‘Các tình trạng cấp cứu’ ở dưới).
Giảm đau và chăm sóc ban đầu – Đối với trẻ không có dấu hiệu tổn thương thần kinh mạch máu, điều trị ban đầu bao gồm giảm đau và các biện pháp giảm sưng, giảm đau, bao gồm cả việc chọc hút tụ máu dưới móng gây đau (Xem ‘Giảm đau và chăm sóc ban đầu’ ở dưới và “Tụ máu dưới móng”).
Chỉ định hội chẩn hoặc chuyển chuyên khoa – Bác sĩ lâm sàng nên hội chẩn chấn thương chỉnh hình khẩn cấp, thường trong vòng một đến hai ngày, đối với trẻ có bất kỳ tình trạng gãy xương bàn chân hoặc ngón chân nào sau đây (xem ‘Chỉ định hội chẩn hoặc chuyển chuyên khoa chấn thương chỉnh hình’ ở dưới):
- Gãy sụn tăng trưởng Salter-Harris I hoặc II có di lệch
- Gãy nội khớp, bao gồm gãy Salter-Harris III hoặc IV
- Gãy xương bàn chân di lệch hoàn toàn hoặc gập góc trên 20 độ
- Gãy cấp tính vùng hành xương gần (gãy Jones)
- Gãy nhiều xương bàn chân
Gãy xương bàn chân – Xử trí triệt để gãy xương bàn chân tùy thuộc vào vị trí và đặc điểm gãy xương (Xem ‘Gãy xương bàn chân’ ở dưới).
Gãy xương ngón chân – Gãy xương ngón chân không di lệch thường lành nhanh trong vòng ba đến bốn tuần. Điều trị bao gồm (xem ‘Gãy xương ngón chân’ ở dưới):
- Cố định ngón bị thương với ngón lân cận (băng dán buddy taping) (hình 1)
- Chườm lạnh, nghỉ ngơi và kê cao chân quá mức tim để giảm sưng và đau
- Di chuyển bằng giày đế cứng hoặc ủng bó bột
- Sử dụng thuốc giảm đau đường uống khi cần thiết (ví dụ: acetaminophen hoặc ibuprofen)
Các trường hợp gãy Salter-Harris III hoặc IV đốt ngón gần ngón cái và gãy hở các đốt ngón gần cần hội chẩn chấn thương chỉnh hình khẩn cấp.