TÓM TẮT
Chấn thương trong lồng ngực – Chấn thương lồng ngực là dấu hiệu cảnh báo tình trạng đa chấn thương nghiêm trọng, vì tổn thương này thường là hệ quả của các cơ chế tác động mạnh, vốn cũng gây ra các tổn thương phối hợp nặng nề khác. (Xem mục ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Các tổn thương sau đây có thể xảy ra do chấn thương lồng ngực kín hoặc xuyên thấu ở trẻ em:
- Tràn khí và tràn máu màng phổi – Tràn khí và tràn máu màng phổi thường xảy ra đồng thời và mỗi tình trạng đều có thể đe dọa tính mạng. Chẩn đoán tràn khí hoặc tràn máu màng phổi được nghi ngờ dựa trên các dấu hiệu lâm sàng (đã thảo luận chi tiết ở trên) và được xác nhận khi có bằng chứng giải áp trong quá trình đặt dẫn lưu lồng ngực hoặc chọc hút màng phổi bằng kim. Đối với những bệnh nhân không ổn định, không được để chẩn đoán hình ảnh làm trì hoãn việc điều trị cấp cứu. Những trẻ ổn định có thể được chỉ định chẩn đoán hình ảnh (X-quang ngực hoặc siêu âm tại giường) để xác nhận chẩn đoán. (Xem mục ‘Tràn khí và tràn máu màng phổi’ ở dưới.)
- Dập phổi – Dập phổi được định nghĩa là tổn thương nhu mô phổi kèm phù và xuất huyết, trong điều kiện không có vết rách lớn ở mạch máu phổi. Khám lâm sàng dập phổi có thể ghi nhận vết bầm tím thành ngực, rale ẩm, rale rít hoặc giảm rì rào phế nang, tuy nhiên kết quả khám thường bình thường ở nhiều trẻ. X-quang ngực điển hình cho thấy hình ảnh đông đặc phổi tại vùng bị tác động (hình 2). (Xem “Dập phổi ở trẻ em” và “Dập phổi ở trẻ em”, phần ‘Đặc điểm lâm sàng’ và “Dập phổi ở trẻ em”, phần ‘Xử trí’.)
- Rách phổi – Các vết rách trong nhu mô phổi có thể gây chảy máu, hoặc ít gặp hơn là rò khí, dẫn đến tràn máu và/hoặc tràn khí màng phổi. Bệnh nhân thường biểu hiện khạc máu, có dấu hiệu suy hô hấp và tụt huyết áp. Rách phổi có thể gây xuất huyết ồ ạt, đòi hỏi phải truyền máu, đặc biệt là sau khi đặt dẫn lưu lồng ngực. (Xem mục ‘Rách phổi’ ở dưới.)
- Ngạt do chấn thương – Ngạt do chấn thương là một hệ quả hiếm gặp của chấn thương lồng ngực ở trẻ em do lồng ngực của trẻ có độ linh hoạt cao hơn. Các dấu hiệu lâm sàng điển hình bao gồm xuất huyết kết mạc (hình 1), phù mặt và tím tái. (Xem mục ‘Ngạt do chấn thương’ ở dưới.)
- Chấn thương tim kín – Trẻ gặp chấn thương tim kín (BCI) có thể xuất hiện loạn nhịp tim, tiếng thổi mới, suy tim hoặc tụt huyết áp. (Xem mục ‘Chấn thương tim kín’ ở dưới.)
- Chấn thương động mạch chủ – Biểu hiện lâm sàng của chấn thương động mạch chủ bao gồm tụt huyết áp, giảm huyết áp và/hoặc yếu mạch ở chi dưới (so với chi trên), hoặc liệt hai chi dưới. Chẩn đoán cũng được gợi ý khi thấy trung thất rộng trên X-quang ngực (hình 4). (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)
Cần hội chẩn khẩn cấp với bác sĩ ngoại chấn thương hoặc ngoại lồng ngực có chuyên môn về nhi khoa cho bất kỳ trẻ nào nghi ngờ chấn thương động mạch chủ dựa trên khám lâm sàng hoặc X-quang ngực sàng lọc. Những bệnh nhân không ổn định về huyết động nên được can thiệp phẫu thuật cấp cứu hoặc can thiệp nội mạch thay vì thực hiện thêm các chẩn đoán hình ảnh khác. (Xem mục ‘Xử trí’ ở dưới.)
- Chấn thương thực quản – Các triệu chứng ban đầu của vỡ thực quản có thể kín đáo và không đặc hiệu. Bệnh nhân thường báo cáo tình trạng đau, có thể đau sau xương ức hoặc lan lên cổ và vai. Các dấu hiệu sớm của vỡ thực quản bao gồm nhịp tim nhanh, khó thở, gồng bụng và tràn khí dưới da. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán chấn thương thực quản thường được thực hiện thông qua chụp thực quản có cản quang và/hoặc nội soi thực quản. Trẻ thủng thực quản cần được hồi sức dịch và sử dụng kháng sinh phổ rộng bao phủ vi khuẩn gram dương, gram âm và vi khuẩn kỵ khí, sau đó tiến hành phẫu thuật sửa chữa khẩn cấp. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới và ‘Xử trí’ ở dưới.)
- Chấn thương khí phế quản – Trẻ có tiếng rít thanh quản, tràn khí dưới da hoặc rò khí kéo dài sau khi đặt dẫn lưu lồng ngực có thể gặp chấn thương khí phế quản. X-quang ngực và chụp cắt lớp vi tính (CT) ngực giúp xác nhận chẩn đoán. Bệnh nhân nghi ngờ chấn thương khí phế quản nên được đặt nội khí quản trong điều kiện kiểm soát, nếu có thể hãy thực hiện dưới hướng dẫn của nội soi phế quản. Thường yêu cầu phẫu thuật sửa chữa. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới và ‘Xử trí’ ở dưới.)
- Chấn thương cơ hoành – Chấn thương cơ hoành có thể không được phát hiện trong quá trình đánh giá ban đầu ở trẻ gặp chấn thương lồng ngực hoặc bụng. X-quang ngực có thể cho thấy hình ảnh hơi trong ruột hoặc các quai ruột nằm trên cơ hoành (thường ở bên trái) (hình 5), đầu ống thông dạ dày nằm trên cơ hoành, hoặc vòm hoành bị nâng cao hoặc bị mờ. Việc đặt ống thông dạ dày thường rất quan trọng để giảm kích thước dạ dày, giúp phổi giãn nở tốt hơn trước khi phẫu thuật sửa chữa. Cần tránh đặt dẫn lưu lồng ngực. (Xem mục ‘Chấn thương cơ hoành’ ở dưới.)