TÓM TẮT
Phân loại và thuật ngữ – Viêm trực tràng – kết tràng dị ứng do protein thực phẩm (FPIAP) đặc trưng bởi tình trạng viêm đoạn xa kết tràng nhằm đáp ứng với các protein thực phẩm cụ thể, thông qua cơ chế không qua trung gian immunoglobulin E (IgE) (bảng 1). Bệnh lý ruột do protein thực phẩm có cơ chế tương tự, nhưng tổn thương xảy ra ở ruột non. Các thuật ngữ trước đây từng được dùng cho những rối loạn không qua trung gian IgE này như “không dung nạp” (intolerance) hoặc “nhạy cảm” (sensitivity) với “protein sữa” (hoặc “protein đậu nành”, v.v.) hiện không còn được khuyến cáo. (Xem mục ‘Phân loại và thuật ngữ’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng và tác nhân gây bệnh – FPIAP thường biểu hiện bằng đi ngoài ra máu tươi hoặc tiêu chảy kéo dài kèm nhầy ở trẻ nhũ nhi, trong khi các dấu hiệu sức khỏe khác thường bình thường. Tác nhân gây bệnh phổ biến là protein từ sữa bò, đôi khi là đậu nành hoặc các protein thực phẩm khác, được hấp thu qua sữa mẹ hoặc sữa công thức tiêu chuẩn. (Xem mục ‘Tác nhân gây bệnh từ chế độ ăn’ và ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Đánh giá và chẩn đoán
Nhóm bệnh nhân có đặc điểm điển hình – Với hầu hết bệnh nhân, FPIAP được chẩn đoán lâm sàng dựa trên các triệu chứng điển hình. Khi có tình trạng xuất huyết, cần loại trừ các nguyên nhân gây đi ngoài ra máu tươi khác thông qua khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng tập trung. Đặc biệt, cần kiểm tra kỹ vùng hậu môn để tìm nứt kẽ hậu môn, vốn là một nguyên nhân phổ biến gây chảy máu trực tràng đơn độc. Chẩn đoán FPIAP được xác nhận sơ bộ nếu các triệu chứng thuyên giảm sau khi loại bỏ kháng nguyên thực phẩm nghi ngờ.
Nhóm bệnh nhân có đặc điểm không điển hình – Những bệnh nhân có biểu hiện không điển hình, những trường hợp chẩn đoán không chắc chắn, hoặc những trẻ không đáp ứng với việc loại bỏ thực phẩm nghi ngờ một cách cẩn thận và nhất quán cần được đánh giá chuyên sâu hơn. Quá trình này có thể bao gồm nội soi đại tràng sigma kèm sinh thiết hoặc thử lại dị nguyên trong những tuần sau khi triệu chứng thuyên giảm để theo dõi sự tái phát. Các công cụ chẩn đoán này giúp đưa ra kết luận chính xác hơn nhưng ít khi được sử dụng thường quy. (Xem mục ‘Đánh giá chung cho mọi bệnh nhân’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt bao gồm nứt kẽ hậu môn và một số nguyên nhân gây chảy máu trực tràng khác ở trẻ nhũ nhi. Các đáp ứng không qua trung gian IgE khác với thực phẩm bao gồm hội chứng viêm ruột – kết tràng do protein thực phẩm (FPIES) và bệnh lý ruột do protein thực phẩm/viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan, cả hai thường tổn thương ruột non và dạ dày. FPIES biểu hiện bằng nôn trớ nhiều và liên tục, thường kèm tiêu chảy, dẫn đến mất nước và lờ đờ trong giai đoạn cấp tính (thường cần bù nước), hoặc gây sụt cân và chậm phát triển trong thể mạn tính. (Xem mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới và “Hội chứng viêm ruột – kết tràng do protein thực phẩm (FPIES)”.)
Xử trí – Điều trị FPIAP được thực hiện theo kinh nghiệm, bao gồm loại bỏ hoàn toàn sữa bò (và/hoặc các kháng nguyên nghi ngờ khác) khỏi chế độ ăn. Đối với trẻ bú mẹ, điều này có thể đạt được bằng cách loại bỏ tất cả protein sữa khỏi chế độ ăn của người mẹ. Đối với trẻ uống sữa công thức, sử dụng sữa công thức thủy phân toàn phần (bảng 2). Chỉ một số ít trẻ cần loại bỏ nhiều loại protein thực phẩm hoặc sử dụng sữa công thức chứa axit amin. Hầu hết trẻ sẽ khỏi bệnh trước một tuổi. (Xem mục ‘Xử trí’ ở dưới.)