TÓM TẮT
Rối loạn nhân cách – Rối loạn nhân cách được chẩn đoán khi các đặc điểm nhân cách quá cứng nhắc và kém thích nghi trong nhiều tình huống khác nhau, gây ra sự suy giảm đáng kể về chức năng xã hội, nghề nghiệp, vai trò cũng như gây ra sự đau khổ cho người bệnh. Để đủ tiêu chuẩn chẩn đoán, các triệu chứng phải sai lệch rõ rệt so với kỳ vọng văn hóa của cá nhân đó (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới).
Phân loại – Theo Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, Phiên bản thứ năm, Bản hiệu chỉnh (DSM-5-TR) của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, các rối loạn nhân cách được chia thành ba nhóm (xem ‘Chẩn đoán’ và ‘Phân loại’ ở dưới):
- Đặc điểm Nhóm A – Người bệnh thường có vẻ kỳ dị và lập dị; các rối loạn trong nhóm này bao gồm rối loạn nhân cách hoang tưởng, phân liệt và loạn phân liệt (Xem ‘Hoang tưởng’, ‘Phân liệt’ và “Rối loạn nhân cách loạn phân liệt: Dịch tễ học, bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, diễn tiến và chẩn đoán”).
- Đặc điểm Nhóm B – Người bệnh thường biểu hiện kịch tính, cảm xúc hoặc thất thường; bao gồm các rối loạn nhân cách phản xã hội, ranh giới, kịch tính và tự tôn (Xem “Rối loạn nhân cách phản xã hội: Dịch tễ học, biểu hiện lâm sàng, diễn tiến và chẩn đoán”, “Rối loạn nhân cách ranh giới: Dịch tễ học, bệnh sinh, đặc điểm lâm sàng, diễn tiến, đánh giá và chẩn đoán”, ‘Kịch tính’ và “Rối loạn nhân cách tự tôn: Dịch tễ học, bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, diễn tiến, đánh giá và chẩn đoán”).
- Đặc điểm Nhóm C – Người bệnh thường có biểu hiện lo âu hoặc sợ hãi; bao gồm các rối loạn nhân cách né tránh, phụ thuộc và ám ảnh cưỡng chế (Xem ‘Né tránh’, ‘Phụ thuộc’ và ‘Ám ảnh cưỡng chế’).
Biểu hiện lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của rối loạn nhân cách thay đổi tùy theo từng loại rối loạn cụ thể. Bệnh nhân rối loạn nhân cách có thể gây khó khăn cho lâm sàng và một số biểu hiện của bệnh có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc. Những rào cản trong việc xây dựng liên minh điều trị hiệu quả giữa bác sĩ và bệnh nhân có thể phát sinh do sự thiếu tin tưởng, dễ kích động, kỹ năng giao tiếp kém, sự phụ thuộc hoặc những yêu cầu quá mức của người bệnh (Xem ‘Biểu hiện trong chăm sóc lâm sàng’ ở dưới).
Người bệnh thường thiếu nhận thức về mối liên hệ giữa hành vi của họ và những khó khăn trong giao tiếp xã hội, đồng thời thường có xu hướng “ngoại hóa” các khó khăn này, coi vấn đề nằm ở cách mọi người phản ứng với họ thay vì xuất phát từ chính bản thân mình (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới).
Tác động của rối loạn – Người mắc rối loạn nhân cách có nguy cơ cao gặp phải các kết cục bất lợi liên quan đến chấn thương vật lý, tự sát, rối loạn sử dụng chất, cũng như mắc đồng thời các rối loạn tâm thần và bệnh lý thực thể khác. Bệnh nhân thường gặp khó khăn trong việc hiểu tình trạng bệnh và thiết lập mối quan hệ tin cậy với bác sĩ điều trị (Xem ‘Tác động của rối loạn’ ở dưới).
Hướng tiếp cận điều trị – Chúng tôi thường xem liệu pháp tâm lý là lựa chọn điều trị hàng đầu cho bệnh nhân rối loạn nhân cách. Thuốc thường được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ kết hợp với liệu pháp tâm lý (Xem ‘Hướng tiếp cận điều trị’ ở dưới).
Cần sớm chuyển gửi bệnh nhân có sự suy giảm chức năng do rối loạn nhân cách đến các chuyên gia sức khỏe tâm thần để điều trị (Xem ‘Chuyển gửi đến chuyên gia sức khỏe tâm thần’ ở dưới).
Chúng tôi thường thảo luận cởi mở với bệnh nhân về các lựa chọn điều trị và chẩn đoán. Việc giáo dục bệnh nhân về chẩn đoán là điều thiết yếu để đối mặt và xóa bỏ những ấn tượng tiêu cực cũng như sự kỳ thị (Xem ‘Thảo luận về chẩn đoán’ ở dưới).
Những vấn đề phát sinh trong quản lý lâm sàng đối với bệnh nhân rối loạn nhân cách được giải quyết tốt nhất bằng cách nuôi dưỡng một mối quan hệ khiến bệnh nhân cảm thấy thoải mái khi chia sẻ những lo lắng, mặc dù việc giao tiếp trực tiếp thường không dễ dàng đối với những người này.
Việc bác sĩ nhận thức được các phản ứng cảm xúc và trải nghiệm tương tác cá nhân với bệnh nhân sẽ rất hữu ích trong việc nhận diện và quản lý bệnh nhân rối loạn nhân cách.