TÓM TẮT
- Nguyên nhân sinh lý – Hôi miệng do sinh lý là tình trạng hơi thở có mùi nhưng không do một nguyên nhân bệnh lý cụ thể nào. Tình trạng này thường tăng nặng sau khi thức dậy, là kết quả của việc vi khuẩn tác động lên các tế bào biểu mô bong tróc và các mẩu thức ăn kẹt lại trên mặt lưng lưỡi. (Xem thêm mục ‘Sinh lý’ ở dưới.)
- Nguyên nhân bệnh lý – Các bệnh lý trong khoang miệng là nguyên nhân phổ biến nhất có thể xác định được gây hôi miệng (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Khoang miệng’ ở dưới.)
- Đánh giá – Quá trình đánh giá hôi miệng bao gồm khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng, tập trung tìm kiếm các nguyên nhân có thể điều trị được; ngoài ra có thể kết hợp với các xét nghiệm cảm quan và/hoặc xét nghiệm bằng thiết bị đo để định lượng các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi. (Xem thêm mục ‘Đánh giá’ ở dưới.)
- Chỉ định chuyển chuyên khoa – Mặc dù bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu có thể thực hiện đánh giá ban đầu cho bệnh nhân hôi miệng, nhưng việc chuyển tuyến đến nha sĩ, chuyên gia sức khỏe tâm thần hoặc bác sĩ chuyên khoa là cần thiết nếu xác định hoặc nghi ngờ một số tình trạng nhất định (ví dụ: viêm nướu hoặc viêm quanh răng, hội chứng sợ hôi miệng, rối loạn thần kinh). (Xem thêm mục ‘Chỉ định chuyển chuyên khoa’ ở dưới.)
- Xử trí
- Nếu xác định được nguyên nhân cụ thể gây hôi miệng, cần tập trung điều trị nguyên nhân đó (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Nguyên nhân xác định được’ ở dưới.)
- Nếu không tìm thấy nguyên nhân cụ thể, nhiều bệnh nhân sẽ cải thiện tình trạng thông qua các biện pháp vệ sinh răng miệng, bao gồm: đánh răng thường xuyên, dùng chỉ nha khoa hàng ngày, vệ sinh nhẹ nhàng mặt lưng lưỡi bằng dụng cụ cạo lưỡi bằng nhựa và sử dụng nước súc miệng trước khi đi ngủ. Các loại nước súc miệng hiệu quả nhất cho việc sử dụng ngắn hạn là những loại chứa chlorhexidine, tuy nhiên chúng có thể gây xỉn màu răng và rối loạn vị giác tạm thời. (Xem thêm mục ‘Không xác định được nguyên nhân’ ở dưới.)