TÓM TẮT
Tổng quan – Bệnh thận do acid aristolochic (AA) là một thể viêm thận kẽ liên quan đến AA, được mô tả lần đầu vào năm 1991. Bệnh lý này có tỷ lệ cao xuất hiện các tế bào không điển hình và ung thư biểu mô đường niệu (biểu mô chuyển tiếp) tại bể thận, niệu quản và bàng quang. (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ và ‘Giải phẫu bệnh’ ở dưới.)
Giải phẫu bệnh – Tổn thương mô bệnh học chính tại thận là xơ hóa kẽ kèm theo teo và mất các ống thận ở vùng vỏ thận. Có thể quan sát thấy tình trạng dày thành các tiểu động mạch gian thùy và tiểu động mạch đến. Sự thâm nhiễm tế bào ở mô kẽ rất ít, các cầu thận thường không bị ảnh hưởng. Không ghi nhận lắng đọng phức hợp miễn dịch. (Xem thêm phần ‘Giải phẫu bệnh’ ở dưới.)
Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh thận do AA bao gồm giới tính nữ, liều lượng độc chất (AA) tiếp xúc và khuynh hướng di truyền khiến cơ thể nhạy cảm với độc tính trên thận và/hoặc dễ gây ung thư. (Xem thêm phần ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Bệnh nhân thường biểu hiện với tình trạng suy giảm chức năng thận mạn tính, huyết áp bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ. Protein niệu tăng mức độ trung bình (dưới 1,5 g/ngày), và xét nghiệm cặn lắng nước tiểu chỉ thấy một ít hồng cầu và bạch cầu. Sự gia tăng bài tiết protein bao gồm cả albumin và các protein có trọng lượng phân tử thấp. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện và tiên lượng’ ở dưới.)
Điều trị – Hiện chưa có liệu pháp điều trị đặc hiệu cho bệnh thận do AA. Bệnh nhân cần tránh tiếp xúc thêm với AA và được chăm sóc tổng quát nhằm làm chậm tiến triển bệnh thận mạn (CKD) tương tự như các bệnh nhân CKD do các nguyên nhân khác. Ghép thận là phương pháp hiệu quả cho những trường hợp tiến triển thành bệnh thận giai đoạn cuối (ESKD). Do tỷ lệ cao xuất hiện tế bào không điển hình ở đường tiết niệu – sinh dục, bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ thông qua xét nghiệm tế bào học nước tiểu. (Xem thêm phần ‘Điều trị’ ở dưới.)