Biểu hiện và yếu tố nguy cơ của độc tính thận do aminoglycoside

Loại aminoglycoside

Không phải tất cả các aminoglycoside đều có tiềm năng gây độc cho thận như nhau. Tuy nhiên, việc so sánh nguy cơ tương đối về độc tính trên thận của từng loại aminoglycoside gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt trong các nghiên cứu lâm sàng về tỷ lệ mắc, cách sử dụng nhóm đối chứng và tiêu chuẩn định nghĩa độc tính trên thận.

Nhìn chung, khi so sánh các thử nghiệm đối chứng tiến cứu, gentamicin có tiềm năng gây độc cho thận cao nhất, tiếp theo theo thứ tự giảm dần là tobramycin, amikacin và netilmicin 1,29,36. Mặc dù amikacin và netilmicin được coi là ít độc cho thận hơn gentamicin và tobramycin, nhưng sự khác biệt này không quá lớn 1. Hiện có rất ít dữ liệu để xác định độc tính trên thận của plazomicin 37,38. Nguy cơ gây độc thận tương đối của một loại aminoglycoside cụ thể sẽ luôn phụ thuộc vào các yếu tố của bệnh nhân, bệnh đồng mắc và bệnh cảnh lâm sàng khi sử dụng thuốc.

Tần suất liều dùng

Tần suất liều dùng cũng có thể là một yếu tố nguy cơ dẫn đến độc tính trên thận của aminoglycoside. Điều này được hỗ trợ bởi các dữ liệu lâm sàng khả quan quan sát được từ các chương trình dùng aminoglycoside liều một lần mỗi ngày. Trong liệu pháp này, một liều nạp lớn hơn nhiều được dùng mỗi 24 đến 48 giờ. Cơ sở của phương pháp này là nhằm tận dụng hoạt tính diệt khuẩn phụ thuộc nồng độ và hiệu ứng hậu kháng sinh của aminoglycoside. Cách tiếp cận liều dùng này đã chứng minh hiệu quả lâm sàng cải thiện và giảm độc tính trên thận so với cách dùng aminoglycoside truyền thống 21,22. Nội dung này được thảo luận chi tiết trong một phần riêng. (Xem “Liều dùng và cách dùng aminoglycoside đường tiêm”, phần ‘So sánh liều khoảng cách kéo dài và liều ngắt quãng truyền thống’.)

TÓM TẮT

Tổn thương thận cấp (AKI) do aminoglycoside – AKI do phơi nhiễm aminoglycoside thường khởi phát sau 5 đến 7 ngày điều trị. Đặc điểm không thiểu niệu của suy thận là thứ phát sau việc mất khả năng cô đặc nước tiểu, được cho là kết quả của tổn thương ống thận xa. Tình trạng hoại tử ống thận cấp do aminoglycoside ít có khả năng diễn tiến nặng nếu được phát hiện sớm. (Xem ‘Tổn thương thận cấp không thiểu niệu’ ở dưới.)

Rối loạn điện giải – Hạ magie máu, hạ kali máu, hạ canxi máu và hạ phospho máu ít khi được ghi nhận. (Xem ‘Rối loạn điện giải’ ở dưới.)

Diễn tiến của AKI – Vì ống thận gần có khả năng tái tạo, nên diễn tiến thông thường của độc tính trên thận do aminoglycoside là phục hồi chức năng thận. Nồng độ creatinine huyết tương thường trở về mức cơ bản trước đó trong vòng 21 ngày sau khi ngừng điều trị. Tuy nhiên, quá trình hồi phục giai đoạn cấp có thể bị chậm hoặc không hoàn toàn. (Xem ‘Diễn tiến’ ở dưới.)

Yếu tố nguy cơ – Một số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng gây độc cho thận của aminoglycoside đã được xác định. Các yếu tố chính bao gồm: thời gian điều trị kéo dài, tuổi cao, bệnh đồng mắc, giảm thể tích động mạch hiệu dụng, nhiễm khuẩn huyết, giảm albumin máu, sử dụng thuốc phối hợp, nồng độ thuốc trong huyết tương tăng cao, loại aminoglycoside và tần suất liều dùng. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here