TÓM TẮT
-
Đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch – Tất cả bệnh nhân trưởng thành cần được đánh giá định kỳ nhằm xác định các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được của bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch (ASCVD), bao gồm mức độ hoạt động thể lực, giấc ngủ, chế độ ăn uống, cũng như việc sử dụng thuốc lá và rượu bia. Ngoài ra, cần tầm soát tiền sử gia đình mắc ASCVD sớm, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, thừa cân/béo phì và đái tháo đường ở những đối tượng chọn lọc. (Xem mục ‘Xác định các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
-
Ước tính nguy cơ ASCVD – Việc định lượng nguy cơ ASCVD ở từng cá nhân giúp xác định những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao, từ đó có hướng can thiệp giảm thiểu yếu tố nguy cơ tích cực hơn. Việc định lượng nguy cơ thông qua các công cụ tính toán giúp định hướng cường độ điều trị rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và hỗ trợ quyết định có nên sử dụng aspirin liều thấp hay không (sơ đồ 3). Chúng tôi dựa vào tuổi của bệnh nhân để quyết định thời điểm cần định lượng nguy cơ ASCVD. (Xem “Đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch trong dự phòng cấp 1 ở người trưởng thành” và mục ‘Đánh giá nguy cơ ASCVD’ ở dưới.)
-
Duy trì lối sống lành mạnh – Chúng tôi khuyến khích mọi cá nhân thực hiện các biện pháp sau để giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch (CVD): bỏ thuốc lá, hạn chế tăng cân, áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh và hoạt động thể lực thường xuyên. Việc duy trì lối sống lành mạnh trên nhiều phương diện có thể giảm đáng kể nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, cũng như tỷ lệ tử vong do tim mạch và tử vong chung. (Xem mục ‘Thúc đẩy lối sống lành mạnh’ ở dưới, cùng các bài “Tập thể dục và rèn luyện thể chất trong dự phòng bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch”, “Chế độ ăn uống lành mạnh ở người trưởng thành”, “Tổng quan về quản lý cai thuốc lá ở người trưởng thành” và “Lợi ích và nguy cơ tim mạch của việc tiêu thụ rượu bia ở mức vừa phải”.)
-
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ chuyển hóa có thể thay đổi được – Việc xác định và điều trị tăng huyết áp, thừa cân, béo phì, rối loạn lipid máu và đái tháo đường là những nền tảng trong dự phòng cấp 1 bệnh CVD. Việc giảm thiểu đồng thời nhiều yếu tố nguy cơ thông qua thay đổi lối sống trị liệu (TLCs) kết hợp với các liệu pháp thuốc đã được chứng minh hiệu quả sẽ mang lại lợi ích cộng hưởng trong dự phòng cấp 1 bệnh CVD. (Xem mục ‘Xác định và xử trí các yếu tố nguy cơ chính’ ở dưới, cùng bài “Tổng quan về tăng huyết áp ở người trưởng thành”, phần ‘Điều trị’, “Béo phì ở người trưởng thành: Tổng quan về quản lý” và “Tổng quan về chăm sóc y tế tổng quát ở người trưởng thành không mang thai mắc đái tháo đường”.)
-
Vai trò của aspirin – Việc quyết định sử dụng aspirin trong dự phòng cấp 1 cần được cá thể hóa. Chỉ nên cân nhắc sử dụng aspirin sau khi đã triển khai các thay đổi lối sống trị liệu (TLCs) và các thuốc khác đã được chứng minh lợi ích, chẳng hạn như statin. (Xem bài “Aspirin trong dự phòng cấp 1 bệnh tim mạch và ung thư”.)