Giang mai: Sàng lọc và xét nghiệm chẩn đoán

TÓM TẮT

Đối tượng cần xét nghiệm

Giang mai là bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây ra. Việc chỉ định xét nghiệm chẩn đoán giang mai nên được thực hiện ở những bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng (bảng 1).

Ngoài ra, những bệnh nhân không có triệu chứng cũng cần được tầm soát giang mai tiềm ẩn nếu họ thuộc nhóm có nguy cơ cao nhiễm bệnh hoặc có nguy cơ lây truyền bệnh cho người khác (ví dụ: phụ nữ mang thai). (Xem mục ‘Đối tượng cần xét nghiệm’ ở dưới.)

Tiếp cận xét nghiệm

Đối với hầu hết bệnh nhân, chẩn đoán giang mai thường là chẩn đoán sơ bộ dựa trên xét nghiệm huyết thanh học mẫu máu, thay vì chẩn đoán xác định. Các phương pháp phát hiện trực tiếp tác nhân gây bệnh hiện không phổ biến trong thực hành lâm sàng.

Xét nghiệm huyết thanh học để chẩn đoán giang mai nên bao gồm cả xét nghiệm không treponema (nontreponemal tests) và xét nghiệm treponema (treponemal tests). Đối với những người chưa từng nhiễm giang mai trước đây, một trong hai loại xét nghiệm này có thể được dùng làm xét nghiệm tầm soát ban đầu (sơ đồ 2sơ đồ 1). Do khả năng xảy ra kết quả dương tính giả ở xét nghiệm tầm soát, việc thực hiện xét nghiệm khẳng định là bắt buộc. (Xem mục ‘Các xét nghiệm chẩn đoán’‘Tiếp cận xét nghiệm’ ở dưới.)

Trong trường hợp nghi ngờ giang mai thần kinh, cần thực hiện thêm đánh giá dịch não tủy. (Xem mục ‘Xét nghiệm giang mai thần kinh’ ở dưới.)

Phiên giải kết quả xét nghiệm huyết thanh học

Việc phiên giải đúng kết quả xét nghiệm huyết thanh học phụ thuộc vào sự hiện diện hay vắng mặt của các triệu chứng lâm sàng, tiền sử nhiễm giang mai của bệnh nhân và tình trạng miễn dịch của từng cá nhân. Ví dụ:

  • Xét nghiệm không treponema và treponema đều dương tính:

    Đối với bệnh nhân không có tiền sử nhiễm giang mai, chẩn đoán giang mai được xác lập khi cả hai xét nghiệm không treponema và treponema đều cho kết quả phản ứng. Tất cả những người được chẩn đoán nhiễm giang mai mới đều cần được điều trị. (Xem mục ‘Bệnh nhân không có tiền sử nhiễm giang mai’ ở dưới.)

    Đối với bệnh nhân có tiền sử đã điều trị giang mai, kết quả xét nghiệm không treponema dương tính có thể là dấu hiệu của một đợt nhiễm mới, đáp ứng đang tiến triển sau điều trị gần đây, hoặc thất bại điều trị. Trong một số trường hợp, dù hiệu giá kháng thể đã giảm thỏa đáng nhưng xét nghiệm không treponema không trở về âm tính (không chuyển sêrô). (Xem mục ‘Bệnh nhân có tiền sử đã điều trị giang mai’ ở dưới.)

  • Xét nghiệm không treponema dương tính và treponema âm tính:

    Những bệnh nhân có kết quả xét nghiệm không treponema dương tính nhưng xét nghiệm treponema sau đó âm tính thường được coi là dương tính giả. Tuy nhiên, cần lặp lại xét nghiệm ở những người có tiền sử tiếp xúc nguy cơ cao gần đây (sơ đồ 1). (Xem mục ‘Không treponema dương tính/treponema âm tính’ ở dưới.)

    Ước tính có khoảng 1% đến 2% dân số Hoa Kỳ có kết quả xét nghiệm không treponema dương tính giả. Kết quả dương tính giả đặc biệt phổ biến trong thời kỳ mang thai. Các nguyên nhân khác gây dương tính giả bao gồm nhiễm trùng cấp tính, vừa tiêm chủng hoặc mắc các bệnh lý tự miễn.

  • Xét nghiệm treponema dương tính và không treponema âm tính:

    Những bệnh nhân được tầm soát bằng chiến lược ưu tiên xét nghiệm treponema trước (“quy trình đảo ngược – reverse algorithm”) có thể có kết quả treponema dương tính nhưng không treponema âm tính. Kịch bản này thường gặp ở những bệnh nhân từng điều trị giang mai trước đó (sơ đồ 3). Tuy nhiên, trường hợp này đôi khi cũng xảy ra trong giang mai giai đoạn rất sớm hoặc giang mai giai đoạn muộn không được điều trị khi các xét nghiệm không treponema mất phản ứng theo thời gian (sơ đồ 2). Nếu không rõ tình trạng điều trị của bệnh nhân, cơ quan y tế địa phương có thể cung cấp thông tin chi tiết về các lần xét nghiệm và điều trị trước đây. (Xem mục ‘Xét nghiệm treponema dương tính/không treponema âm tính’‘Xét nghiệm không treponema âm tính trong giang mai giai đoạn muộn’ ở dưới.)

  • Xét nghiệm không treponema âm tính ở bệnh nhân có bằng chứng giang mai giai đoạn sớm:

    Những bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của giang mai giai đoạn sớm (ví dụ: vết loét, phát ban) nhưng kết quả xét nghiệm không treponema ban đầu âm tính có thể là âm tính giả. Ở những bệnh nhân này, kết quả âm tính giả thường do xét nghiệm được thực hiện trước khi cơ thể kịp hình thành kháng thể hoặc do hiện tượng prozone. (Xem mục ‘Xét nghiệm không treponema âm tính trong giang mai giai đoạn sớm’ ở dưới.)

Giang mai tiềm ẩn

Giang mai tiềm ẩn được chẩn đoán khi bệnh nhân không có dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng nhưng có bằng chứng huyết thanh học của sự nhiễm trùng. Giang mai tiềm ẩn sớm được chẩn đoán nếu bệnh nhân không triệu chứng có bằng chứng huyết thanh học nhiễm T. pallidum trong vòng 12 tháng qua. Tất cả các trường hợp còn lại được coi là giang mai tiềm ẩn muộn. (Xem mục ‘Giang mai tiềm ẩn’ ở dưới.)

LỜI CẢM ƠN – Ban biên tập xin ghi nhận đóng góp của BS. P Frederick Sparling cho các phiên bản trước của bài tổng quan này.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here