Viêm tuyến giáp sau sinh

TÓM TẮT

Đặc điểm lâm sàng

Khoảng 20 đến 30% bệnh nhân viêm giáp sau sinh diễn tiến theo trình tự điển hình: bắt đầu bằng giai đoạn cường giáp (thường xuất hiện từ 1 đến 4 tháng sau sinh, kéo dài từ 2 đến 8 tuần), tiếp nối bởi giai đoạn suy giáp (kéo dài khoảng 2 tuần đến 6 tháng), và cuối cùng là hồi phục (hình 1). Một số trường hợp chỉ xuất hiện đơn độc giai đoạn cường giáp hoặc suy giáp (Xem phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới).

Các triệu chứng và dấu hiệu của cường giáp khi xuất hiện thường ở mức độ nhẹ, chủ yếu bao gồm: mệt mỏi, sụt cân, đánh trống ngực, không chịu được nóng, lo âu, dễ kích động, nhịp tim nhanh và run tay. Tương tự, tình trạng suy giáp thường diễn ra nhẹ, dẫn đến thiếu năng lượng, không chịu được lạnh, táo bón, chậm chạp và khô da.

Kết quả xét nghiệm sinh hóa phụ thuộc vào giai đoạn của viêm giáp sau sinh:

  • Giai đoạn cường giáp: Nồng độ thyroxine tự do (T4) và triiodothyronine (T3) trong huyết thanh tăng hoặc ở ngưỡng cao của bình thường; nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH) giảm.
  • Giai đoạn suy giáp: Nồng độ T4 tự do trong huyết thanh giảm hoặc ở ngưỡng thấp của bình thường; nồng độ TSH tăng.

Chẩn đoán

Chẩn đoán viêm giáp sau sinh dựa trên biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm chức năng tuyến giáp. Đối với những bệnh nhân có triệu chứng hoặc dấu hiệu cường giáp hoặc suy giáp trong thời kỳ sau sinh, chúng tôi chỉ định định lượng cả TSH và T4 tự do thay vì chỉ định đơn độc TSH. Các xét nghiệm chức năng tuyến giáp có thể dao động trong quá trình diễn tiến của viêm giáp sau sinh, và sự thay đổi nồng độ TSH thường chậm hơn so với sự thay đổi của T4 tự do trong huyết thanh. Nếu TSH thấp, cần định lượng thêm T3 (Xem phần ‘Chẩn đoán’‘Xét nghiệm chức năng tuyến giáp’ ở dưới).

Đánh giá

Đối với bệnh nhân suy giáp sau sinh, việc đánh giá kháng thể kháng peroxidase tuyến giáp (anti-TPO) có thể hữu ích trong việc xác nhận chẩn đoán viêm giáp sau sinh và giúp tiên lượng diễn tiến tương lai của bệnh (Xem phần ‘Đánh giá bổ sung’ ở dưới).

Đối với bệnh nhân cường giáp sau sinh, cần đánh giá thêm để phân biệt viêm giáp sau sinh với bệnh Basedow (sơ đồ 1). Khi có các biểu hiện lâm sàng của bệnh Basedow (bệnh lý mắt), cường giáp kéo dài (>1 tháng) hoặc cường giáp nặng (T3 tăng cao vượt trội so với T4), chúng tôi thường định lượng kháng thể kháng thụ thể TSH (TRAb, đo bằng TSI hoặc TBII [TBI]) để xác nhận chẩn đoán bệnh Basedow (Xem phần ‘Đánh giá bổ sung’ ở dưới).

Trong trường hợp không có các biểu hiện lâm sàng này, chúng tôi không thực hiện thêm các xét nghiệm chuyên sâu mà sẽ lặp lại các xét nghiệm chức năng tuyến giáp (TSH, T4 tự do, T3) sau 3 đến 4 tuần. Đến thời điểm đó, hầu hết bệnh nhân viêm giáp sau sinh sẽ cải thiện, trong khi những bệnh nhân cường giáp do Basedow thường không thay đổi hoặc diễn tiến xấu hơn.

Sàng lọc

Đối với những cá nhân có nguy cơ cao phát triển viêm giáp sau sinh (ví dụ: đã biết có kháng thể kháng peroxidase [TPO] dương tính, đái tháo đường tuýp 1, tiền sử viêm giáp sau sinh), chúng tôi đề nghị sàng lọc viêm giáp sau sinh (Khuyến cáo 2C). Thông thường, chúng tôi định lượng TSH vào thời điểm 3 tháng và 6 tháng sau sinh. Nếu nồng độ TSH bất thường, cần thực hiện lại xét nghiệm này cùng với định lượng T4 tự do và T3 (nếu TSH thấp) trong vòng 1 đến 2 tuần (Xem phần ‘Sàng lọc’‘Tiếp cận của chúng tôi’ ở dưới).

Điều trị

Giai đoạn cường giáp – Hầu hết bệnh nhân viêm giáp sau sinh không cần điều trị. Cần lặp lại các xét nghiệm tuyến giáp sau 4 đến 8 tuần để xác nhận tình trạng cường giáp đã hết. Thuốc chẹn beta có thể hữu ích để giảm các triệu chứng đánh trống ngực hoặc run tay gây khó chịu. Nếu bệnh nhân đang cho con bú, chúng tôi ưu tiên dùng propranolol vì thuốc này có tỉ lệ bài tiết vào sữa thấp nhất. Không có vai trò của các thuốc kháng giáp (như methimazole) hoặc i-ốt phóng xạ trong điều trị giai đoạn cường giáp của viêm giáp sau sinh (Xem phần ‘Điều trị’ ở dưới và phần “Điều trị cường giáp trong thai kỳ: Kiểm soát triệu chứng” tại đây).

Giai đoạn suy giáp – Những bệnh nhân có triệu chứng và nồng độ TSH tăng cao hơn mức bình thường cần được điều trị bằng T4 (levothyroxine). Đối với những cá nhân không có triệu chứng nhưng có nồng độ TSH ≥10 mU/L, chúng tôi cũng đề nghị điều trị thay thế T4 (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi không điều trị thường quy cho những cá nhân không có triệu chứng với nồng độ TSH dưới 10 mU/L (Xem phần ‘Điều trị’ ở dưới và “Điều trị suy giáp nguyên phát ở người trưởng thành”).

Thời gian điều trị – Vì rối loạn chức năng tuyến giáp sau sinh thường mang tính chất tạm thời, chúng tôi ưu tiên giảm liều dần (cai thuốc) T4 sau 6 đến 12 tháng, trừ khi bệnh nhân đang mang thai, có kế hoạch mang thai hoặc đang cho con bú. Liều thuốc có thể giảm một nửa, sau đó đánh giá lại chức năng tuyến giáp (TSH, T4 tự do) sau 6 tuần; nếu TSH không tăng, có thể ngưng thuốc và đánh giá lại chức năng tuyến giáp sau 6 tuần tiếp theo (Xem phần ‘Thời gian điều trị hormone tuyến giáp’ ở dưới).

Hầu hết bệnh nhân hồi phục và trở về trạng thái bình giáp trong vòng một năm sau sinh. Tuy nhiên, có tới 30% trường hợp không hồi phục sau giai đoạn suy giáp ban đầu và tiến triển thành suy giáp vĩnh viễn.

Theo dõi – Những cá nhân từng suy giáp có hồi phục vẫn có nguy cơ cao phát triển suy giáp vĩnh viễn trong tương lai, do đó cần theo dõi nồng độ TSH hàng năm (Xem phần ‘Theo dõi dài hạn’ ở dưới).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here