TÓM TẮT
Vi sinh vật – Mặc dù có biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và điều trị tương tự nhau, nhưng bệnh Ehrlichiosis đơn nhân ở người (HME) và Anaplasmosis hạt ở người (HGA) được gây ra bởi các vi sinh vật khác nhau. HME do các loài Ehrlichia gây ra, phổ biến nhất là E. chaffeensis. HGA do Anaplasma phagocytophilum gây ra. (Xem thêm mục ‘Vi sinh vật học’ ở dưới.)
Dịch tễ học – HME lây truyền qua ve Lone Star (Amblyomma americanum) và là bệnh lưu hành tại các vùng Đông Nam, Nam Trung Bộ và Trung Đại Tây Dương của Hoa Kỳ. HGA lây truyền qua ve Ixodes scapularis và lưu hành tại Minnesota, Wisconsin và vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Các trường hợp bệnh cũng đã được báo cáo ở nhiều nơi khác trên thế giới. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – HME và HGA có biểu hiện lâm sàng tương tự nhau, dao động từ thể bệnh nhẹ đến sốc nhiễm khuẩn. Bệnh tiến triển nặng thường gặp hơn trong nhiễm HME và ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
- Khởi phát bệnh thường trong vòng 1 đến 2 tuần sau khi ve cắn.
- Các triệu chứng điển hình bao gồm sốt, mệt mỏi, đau cơ và đau đầu.
- Các kết quả xét nghiệm điển hình bao gồm giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và tăng men gan.
Chẩn đoán – Tại các vùng lưu hành, có thể chẩn đoán lâm sàng nghi ngờ HME hoặc HGA ở những bệnh nhân có hội chứng sốt điển hình và có tiền sử tiếp xúc môi trường ngoài trời. Ngay khi nghi ngờ, chúng tôi chỉ định xét nghiệm PCR máu, phết máu ngoại vi và xét nghiệm huyết thanh cho các loài nghi ngờ. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
- Kết quả PCR dương tính là bằng chứng mạnh mẽ hỗ trợ chẩn đoán HME hoặc HGA, nhưng kết quả âm tính không loại trừ bệnh, đặc biệt là sau tuần đầu tiên của bệnh.
- Một xét nghiệm huyết thanh dương tính đơn độc không đủ để xác nhận chẩn đoán HME hoặc HGA. Nếu vẫn nghi ngờ nhiễm HME hoặc HGA dù PCR âm tính, chúng tôi sẽ thực hiện xét nghiệm huyết thanh giai đoạn hồi phục lần hai sau 2 đến 4 tuần. Chẩn đoán được xác nhận khi hiệu giá IgG giai đoạn hồi phục tăng gấp 4 lần so với giai đoạn cấp. Hiệu giá IgM ít có giá trị trong chẩn đoán HME hoặc HGA.
- Nếu quan sát thấy các thể bao hàm trong bào tương gọi là morulae (hình 1) trên phết máu trong bệnh cảnh lâm sàng phù hợp, chẩn đoán sẽ được xác định chắc chắn.
Điều trị – Điều trị kinh nghiệm nên được bắt đầu ngay khi nghi ngờ HME hoặc HGA. Đối với bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn hoặc nhiễm trùng huyết nặng, nên phối hợp thêm các thuốc kháng sinh phổ rộng cho đến khi xác định được chẩn đoán HME hoặc HGA. (Xem thêm mục ‘Chỉ định’ ở dưới.)
- Đối với người lớn và trẻ em không mang thai, chúng tôi khuyến cáo dùng doxycycline thay vì các thuốc không thuộc nhóm tetracycline (Khuyến cáo 1B). Mặc dù một số tetracycline có thể gây nhiễm màu răng ở trẻ dưới 8 tuổi, nhưng nguy cơ này với doxycycline là rất thấp nếu dùng liệu trình ngắn ngày. Rifampin là lựa chọn thay thế cho những đối tượng không thể dùng doxycycline (ví dụ: dị ứng nặng). (Xem thêm mục ‘Người lớn’ và ‘Trẻ em’ ở dưới.)
- Đối với phụ nữ mang thai, chúng tôi cũng đề xuất dùng doxycycline thay vì rifampin (Khuyến cáo 2C). Mặc dù các tetracycline khác bị chống chỉ định trong thai kỳ do nguy cơ gây độc cho gan mẹ và tác động xấu đến xương, răng của thai nhi, nhưng những tác dụng phụ này cực kỳ hiếm gặp với doxycycline. (Xem thêm mục ‘Thai kỳ’ ở dưới.)
- Việc điều trị nên được duy trì ít nhất 3 ngày sau khi hết sốt. Ở người lớn, thời gian điều trị tối thiểu là 10 ngày. Đối với trẻ em, không có thời gian tối thiểu, nhưng hầu hết bệnh nhân cần điều trị từ 7 đến 14 ngày. (Xem thêm mục ‘Người lớn’ và ‘Trẻ em’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân HGA nghi ngờ đồng nhiễm, 10 ngày dùng doxycycline là đủ để điều trị hầu hết các trường hợp bệnh Lyme giai đoạn sớm hoặc nhiễm B. miyamotoi. Cần một phác đồ bổ sung nếu có đồng nhiễm Babesiosis. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân bị nhiễm trùng do ve truyền đồng thời (đồng nhiễm)’ ở dưới.)
Phòng bệnh – Các biện pháp phòng ngừa bao gồm sử dụng thuốc xua ve và nhanh chóng kiểm tra, loại bỏ ve sau khi tiếp xúc với môi trường có ve. (Xem thêm mục ‘Phòng ngừa’ và “Phòng ngừa bệnh Lyme”.)