Bệnh mảnh ghép chống chủ liên quan đến truyền máu

TÓM TẮT

Định nghĩa – Bệnh mảnh ghép chống chủ liên quan đến truyền máu (TA-GVHD) là một phản ứng truyền máu hiếm gặp, xảy ra khi một thành phần máu chứa các lympho T còn khả năng sống được truyền cho người nhận có hệ thống miễn dịch không nhận diện được các lympho này là vật thể lạ hoặc không thể tạo ra đáp ứng miễn dịch phù hợp để chống lại chúng (bảng 1). Sự thiếu hụt trong nhận diện lympho của người hiến là vật thể lạ có thể xảy ra khi có sự phù hợp một phần về kháng nguyên bạch cầu người (HLA) (hình 1). Các lympho còn sống từ máu truyền sẽ tấn công da, đường tiêu hóa và hệ tạo máu của người nhận. (Xem thêm phần ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)

Dịch tễ học – TA-GVHD cực kỳ hiếm gặp. Tỷ lệ mắc thực tế hiện chưa rõ và được dự đoán là thay đổi tùy theo quần thể và các chiến lược dự phòng. Trong thập niên 1980, tỷ lệ mắc chung được ước tính từ 0,1 đến 1% ở những đối tượng có nguy cơ (xem phần ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới). Kể từ đó, con số này đã giảm đáng kể. Các đối tượng có nguy cơ bao gồm những người trong quần thể đồng nhất về mặt di truyền, những người nhận máu hiến trực tiếp từ thành viên gia đình, cũng như những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bao gồm cả những người mắc hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh và bệnh lý ác tính về huyết học. (Xem thêm phần ‘Tỷ lệ mắc’ ở dưới.)

Dự phòng – Vì TA-GVHD có khả năng dự phòng cao nhưng lại rất khó điều trị, nên việc phòng bệnh là ưu tiên hàng đầu. Biện pháp dự phòng hiệu quả nhất là chiếu xạ (hoặc bất hoạt bằng phương pháp khác) các lympho trong chế phẩm máu cho tất cả các đối tượng có nguy cơ (bảng 1). Quá trình chiếu xạ được thực hiện bằng nguồn gamma hoặc tia X tại ngân hàng máu. Các kỹ thuật bất hoạt mầm bệnh gây tổn thương axit nucleic cũng có hiệu quả trong việc ngăn ngừa TA-GVHD, thậm chí có thể hiệu quả hơn chiếu xạ; bất hoạt mầm bệnh thường được áp dụng cho chế phẩm tiểu cầu nhiều hơn là chiếu xạ. Việc đông băng và rã đông thường giúp ngăn ngừa TA-GVHD nhưng không được thực hiện cho mục đích này. Phương pháp loại bỏ bạch cầu (leukodepletion) có thể cung cấp một mức độ bảo vệ nhất định, nhưng không đủ để loại bỏ hoàn toàn các lympho còn sống hoặc ngăn ngừa tuyệt đối GVHD. (Xem thêm phần ‘Dự phòng’‘Kỹ thuật bất hoạt mầm bệnh’ ở dưới.)

Diễn tiến và biểu hiện – TA-GVHD thường khởi phát trong vòng 2 đến 30 ngày sau khi truyền máu. Các biểu hiện điển hình bao gồm phát ban (hình 1hình 2), tăng men gan và giảm toàn bộ ba dòng tế bào máu. Bệnh nhân cũng có thể xuất hiện tiêu chảy nặng, sốt và/hoặc gan to. Một số trường hợp bệnh diễn tiến nhẹ hơn cũng đã được ghi nhận. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Đánh giá – Việc nhận diện TA-GVHD thường bị chậm trễ do bệnh nhân vốn đã nặng vì những tình trạng bệnh lý dẫn đến chỉ định truyền máu ban đầu. Vì TA-GVHD hiếm gặp nên các chẩn đoán khác thường được xem xét trước. Tuy nhiên, cần duy trì sự nghi ngờ cao đối với bất kỳ bệnh nhân nào xuất hiện sốt, phát ban, triệu chứng tiêu hóa hoặc giảm tế bào máu sau truyền máu. Đánh giá ban đầu tập trung vào việc tìm kiếm các nguyên nhân khác giải thích cho những triệu chứng này và xác định mật độ tế bào tủy xương. Sinh thiết da vùng tổn thương thường được thực hiện; các phát hiện lâm sàng và mô bệnh học được sử dụng để chẩn đoán. Việc chứng minh hiện tượng khảm bạch cầu (WBC chimerism) được coi là bằng chứng xác định, nhưng không phải lúc nào cũng được thực hiện. (Xem thêm phần ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt của TA-GVHD bao gồm thiếu máu bất sản, một số bệnh nhiễm trùng, phản ứng thuốc, bệnh lý gan, bệnh ác tính và hội chứng thực bào máu (HLH). (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Các bài tổng quan riêng biệt thảo luận về những biến chứng muộn khác của truyền máu và thể GVHD liên quan đến ghép tế bào gốc tạo máu (HSCT). (Xem “Phản ứng truyền máu tán huyết”, “Phản ứng truyền máu miễn dịch”, “Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và phân độ bệnh mảnh ghép chống chủ cấp tính”“Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán bệnh mảnh ghép chống chủ mạn tính”.)

Điều trị – Điều trị TA-GVHD hiếm khi mang lại hiệu quả, trừ khi có thể thực hiện ghép tế bào gốc tạo máu (HSCT). Hầu hết bệnh nhân không có sẵn tế bào gốc tạo máu (HSC) tự thân và không có đủ thời gian để tìm kiếm người hiến tế bào gốc đồng loài phù hợp. Liệu pháp ức chế miễn dịch thường được thử nghiệm nhưng hiếm khi hiệu quả. (Xem thêm phần ‘Điều trị’ ở dưới.)

Tiên lượng – Tiên lượng thường xấu, với tỷ lệ sống sót trong chuỗi báo cáo lớn nhất là 8% và tỷ lệ cao hơn (gần 20%) trong giai đoạn sau năm 2000. Một số trường hợp bệnh nhẹ với tỷ lệ sống sót cao hơn đã được báo cáo. Tiên lượng có vẻ tốt hơn ở những bệnh nhân trẻ tuổi, những người nhận chế phẩm máu đã qua loại bỏ bạch cầu và những người sử dụng chế phẩm có thời gian bảo quản dài hơn. (Xem thêm phần ‘Tiên lượng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here