TÓM TẮT
Liệt ruột sau phẫu thuật – Liệt ruột sau phẫu thuật là tình trạng bí trung tiện, đại tiện và không dung nạp nuôi dưỡng đường miệng sau phẫu thuật ổ bụng hoặc ngoài ổ bụng. Tình trạng này do các yếu tố không cơ học gây ra, chủ yếu là viêm cơ trơn ruột, dẫn đến làm gián đoạn hoạt động vận động đẩy phối hợp bình thường của ống tiêu hóa. (Xem ‘Giới thiệu’, ‘Vận động tiêu hóa bình thường’ và ‘Nguyên nhân gây liệt ruột sau phẫu thuật’ ở dưới.)
Liệt ruột sau phẫu thuật kéo dài – Một mức độ liệt ruột nhất định sau mổ là phản ứng sinh lý bình thường đối với phẫu thuật ổ bụng. Tuy nhiên, khi tình trạng liệt ruột kéo dài (trên 3 đến 5 ngày), nó gây khó chịu, không hài lòng cho bệnh nhân, tăng tỷ lệ biến chứng và kéo dài thời gian nằm viện; khi đó cần phân biệt với tắc ruột cơ học hoặc các biến chứng sau mổ khác. (Xem ‘Liệt ruột sau phẫu thuật kéo dài’ ở dưới.)
Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ – Tỷ lệ liệt ruột sau phẫu thuật kéo dài thay đổi đáng kể trong các tài liệu ngoại khoa, tùy thuộc vào định nghĩa được sử dụng và loại phẫu thuật. Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất bao gồm: phẫu thuật ổ bụng hoặc vùng chậu kéo dài, phẫu thuật tiêu hóa dưới, mổ mở, chậm nuôi dưỡng đường tiêu hóa/đặt ống thông dạ dày, viêm trong ổ bụng, các biến chứng sau mổ và có thể là chỉ số khối cơ thể (BMI) tăng (bảng 1). (Xem ‘Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Liệt ruột sau phẫu thuật kéo dài là một chẩn đoán lâm sàng, được xác định khi một hoặc nhiều triệu chứng/dấu hiệu sau đây kéo dài trên 3 đến 5 ngày (tùy thuộc vào tính chất cuộc phẫu thuật và những gì được coi là “điển hình”): (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
- Chướng bụng, đầy hơi và nhiều hơi
- Đau bụng lan tỏa, kéo dài
- Buồn nôn và/hoặc nôn
- Chậm trung tiện hoặc không thể trung tiện
- Không dung nạp chế độ ăn đường miệng
Chẩn đoán hình ảnh – Chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc loại trừ các nguyên nhân gây liệt ruột khác cũng như các bệnh lý ngoại khoa có thể gây chướng bụng và giảm nhu động ruột sau mổ cần can thiệp phẫu thuật hoặc xử trí khác, chẳng hạn như tắc ruột non, thủng ruột, áp xe trong ổ bụng hoặc chảy máu sau phúc mạc (bảng 2). (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
X-quang bụng không chuẩn bị cho thấy có hơi trong đại tràng và trực tràng, không có vùng chuyển tiếp hoặc không có liềm hơi dưới hoành sẽ ủng hộ chẩn đoán liệt ruột sau phẫu thuật và có thể đủ để phân biệt với tắc ruột non. Tuy nhiên, nếu vẫn còn nghi ngờ tắc ruột non hoặc một chẩn đoán khác, chúng tôi sẽ chỉ định chụp cắt lớp vi tính (CT) ổ bụng; nếu kết quả CT vẫn không rõ ràng, sẽ tiến hành chụp đường tiêu hóa trên có thuốc cản quang, ví dụ như chụp enteroclysis. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Xử trí – Cần điều chỉnh tất cả các nguyên nhân có thể đảo ngược khiến tình trạng liệt ruột sau phẫu thuật kéo dài, bao gồm cả nguyên nhân ngoại khoa và nội khoa (bảng 3). Ngoài ra, chăm sóc hỗ trợ bao gồm: kiểm soát đau nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng opioid, truyền dịch và điều chỉnh điện giải một cách hợp lý, hạn chế chế độ ăn và đặt ống thông dạ dày chọn lọc để giải áp tiêu hóa cho những bệnh nhân buồn nôn/nôn kéo dài. Bệnh nhân cần được theo dõi sát thông qua thăm khám bụng định kỳ để đánh giá sự cải thiện hoặc diễn tiến xấu đi. Các chẩn đoán hình ảnh bổ sung là cần thiết nếu các biện pháp điều trị bảo tồn không cải thiện tình trạng bệnh nhân trong vòng 48 đến 72 giờ. (Xem ‘Xử trí’ ở dưới.)
Dự phòng – Vì các chiến lược nhằm hạn chế liệt ruột sau phẫu thuật kéo dài có thể không hiệu quả sau khi tình trạng này đã hình thành, nên tốt nhất là triển khai trước hoặc ngay sau phẫu thuật, trước khi liệt ruột trở nên kéo dài. Các biện pháp dự phòng này—vốn là cốt lõi của các chương trình phục hồi sớm sau phẫu thuật (ERAS) hiện đại—được thảo luận chi tiết ở phần khác. (Xem “Các biện pháp dự phòng liệt ruột sau phẫu thuật kéo dài”.)