TÓM TẮT
Công dụng – Ống thông động mạch lưu được sử dụng để theo dõi liên tục huyết áp (HA) hệ thống, đánh giá các biến thiên theo nhịp hô hấp của dạng sóng áp lực động mạch nhằm xác định tình trạng thể tích nội mạch, và lấy máu xét nghiệm ngắt quãng. (Xem mục ‘Công dụng’ ở dưới.)
Lựa chọn vị trí – Vị trí đặt catheter được chọn bằng cách xác định mạch động mạch có thể bắt được ở ngoại biên (động mạch quay, cánh tay, mu chân) hoặc động mạch trung tâm (ví dụ: động mạch đùi, động mạch nách). (Xem mục ‘Lựa chọn vị trí’ ở dưới.)
Kỹ thuật:
- Kỹ thuật vô khuẩn – Luôn áp dụng các quy trình vô khuẩn chuẩn cho ống thông động mạch ngoại biên, bao gồm khẩu trang, găng tay vô khuẩn và khăn trải. Khi đặt ống thông động mạch trung tâm, cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa rào cản tối đa, bao gồm thêm mũ và kính bảo hộ. Danh mục thiết bị cần thiết được liệt kê trong bảng (bảng 2). (Xem mục ‘Kỹ thuật vô khuẩn’ ở dưới.)
- Sử dụng thuốc tê tại chỗ – Ở bệnh nhân còn tỉnh táo, chúng tôi sử dụng thuốc tê tại chỗ để tránh đau (đặc biệt nếu cần rạch da). (Xem mục ‘Tiêm thuốc tê tại chỗ’ ở dưới.)
- Sử dụng siêu âm – Chúng tôi thường quy sử dụng siêu âm để xác định mạch máu thông suốt và hướng dẫn đặt ống thông.
- Sử dụng dây dẫn (guidewire) – Dây dẫn thường được sử dụng (hình 3), đặc biệt nếu gặp khó khăn với kỹ thuật chọc trực tiếp. (Xem mục ‘Sử dụng dây dẫn’ ở dưới.)
Các lưu ý trong theo dõi:
- Huyết áp – Mặc dù việc đo HA trực tiếp qua động mạch ưu việt hơn so với các kỹ thuật không xâm lấn, nhưng các yếu tố như vị trí đặt ống thông, mức đặt bộ chuyển đổi áp lực (transducer), hoặc tình trạng giảm chấn của đường biểu diễn áp lực có thể gây diễn giải sai dạng sóng áp lực động mạch hoặc gây sai số (hình 4 và hình 8). (Xem mục ‘Theo dõi huyết áp’ ở dưới.)
- Tình trạng thể tích nội mạch – Phân tích dạng sóng động mạch có thể được sử dụng để xác định khả năng đáp ứng với dịch truyền. Các biến thiên trên dạng sóng xuất hiện trong quá trình hô hấp (ví dụ: độ biến thiên áp lực mạch [PPV], độ biến thiên áp lực tâm thu [SPV], hoặc độ biến thiên thể tích nhát bóp [SVV]) có thể được quan sát hoặc đo lường để đánh giá đáp ứng với các thử nghiệm bù dịch (hình 1, hình 2 và bảng 1). (Xem “Kiểm soát dịch truyền trong phẫu thuật”, mục ‘Biến thiên hô hấp trong dạng sóng áp lực động mạch’ và “Các công cụ mới trong theo dõi huyết động cho bệnh nhân nặng bị sốc”, mục ‘Dung nạp thể tích và khả năng đáp ứng với dịch truyền’.)
Biến chứng – Các biến chứng của ống thông động mạch lưu bao gồm co thắt mạch, huyết khối, thuyên tắc khí hoặc hạt nhỏ, tiêm nhầm thuốc vào động mạch, bóc tách hoặc hình thành túi phình giả, mất máu do thủ thuật, và nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân (bảng 3, bảng 4 và bảng 5). (Xem mục ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Duy trì – Chúng tôi khuyến cáo không thay thế ống thông động mạch định kỳ (Khuyến cáo 2C). Thay vào đó, chúng tôi dựa vào đánh giá lâm sàng kỹ lưỡng tại vị trí đặt ống và tình trạng bệnh nhân để quyết định nhu cầu rút hoặc thay thế ống thông. Tốt nhất không nên lưu ống thông động mạch đùi quá năm ngày và ống thông động mạch tại các vị trí khác quá bảy ngày. Cần rút bỏ ống thông động mạch khi việc sử dụng chúng không còn thiết yếu đối với việc chăm sóc bệnh nhân. Chúng tôi thay thế các bộ chuyển đổi áp lực, hệ thống dây nối và dung dịch tráng rửa sau mỗi 96 giờ. (Xem mục ‘Duy trì ống thông động mạch lưu’ ở dưới.)
Rút ống – Kỹ thuật vô khuẩn được tuân thủ trong quá trình rút ống thông động mạch. Thời gian ép cầm máu tối ưu phụ thuộc vào vị trí đặt ống, kích thước ống thông và tình trạng đông máu của bệnh nhân. (Xem mục ‘Rút ống thông động mạch’ ở dưới.)