TÓM TẮT
Cách tiếp cận điều trị hạ canxi máu phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng và nguyên nhân cơ bản.
Hạ canxi máu cấp tính nặng – Những người bệnh hạ canxi máu có triệu chứng nặng (co thắt cơ bàn chân, co thắt thanh quản, co thắt phế quản, co giật, suy giảm chức năng tim, hoặc khoảng QT kéo dài) cần được điều chỉnh nhanh nồng độ canxi bằng liệu pháp canxi đường tĩnh mạch (IV) (thuật toán 1). Chúng tôi cũng đề xuất sử dụng canxi đường tĩnh mạch cho những người bệnh không triệu chứng nhưng có sự sụt giảm cấp tính nồng độ canxi toàn phần hiệu chỉnh xuống ≤7,5 mg/dL (≤1,9 mmol/L) hoặc canxi ion hóa xuống ≤3 mg/dL (≤0,8 mmol/L). (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Hạ canxi máu cấp tính và/hoặc có triệu chứng nặng’ ở dưới.)
Canxi đường tĩnh mạch không được chỉ định là liệu pháp khởi đầu cho người bệnh mắc bệnh thận mạn mà không có triệu chứng hoặc có tình trạng hạ canxi máu mạn tính ổn định chỉ với các triệu chứng nhẹ (ví dụ: dị cảm), trong đó việc kiểm soát tăng photphat máu và bổ sung 1,25-dihydroxyvitamin D thường là mục tiêu ưu tiên. (Xem ‘Liều dùng canxi đường tĩnh mạch’ ở dưới và ‘Bệnh thận mạn’ ở dưới.)
Hạ canxi máu mạn tính hoặc có triệu chứng nhẹ – Đối với những trường hợp có triệu chứng kích thích thần kinh cơ nhẹ (dị cảm) và nồng độ canxi huyết thanh hiệu chỉnh trên 7,5 mg/dL (1,9 mmol/L) hoặc nồng độ canxi ion hóa lớn hơn 3,0 mg/dL (0,8 mmol/L), liệu pháp bổ sung canxi đường uống là đủ (thuật toán 1) (xem ‘Hạ canxi máu mạn tính hoặc có triệu chứng nhẹ’ ở dưới). Nếu triệu chứng không cải thiện với đường uống, cần truyền canxi đường tĩnh mạch.
Canxi đường tĩnh mạch cũng được chỉ định để dự phòng hạ canxi máu cấp tính ở những người bệnh hạ canxi máu mức độ nhẹ hoặc mạn tính (do suy tuyến cận giáp) khi họ không thể dung nạp hoặc không thể hấp thu các chất bổ sung đường uống, tình trạng thường gặp sau các cuộc phẫu thuật phức tạp đòi hỏi thời gian hồi phục kéo dài. (Xem ‘Hạ canxi máu mạn tính hoặc có triệu chứng nhẹ’ ở dưới.)
Khi suy tuyến cận giáp (thoáng qua hoặc vĩnh viễn) hoặc thiếu hụt vitamin D là nguyên nhân gây hạ canxi máu, việc dùng canxi đơn thuần chỉ có tác dụng tạm thời (chừng nào còn tiếp tục truyền) và canxi đường uống có thể không được hấp thu tốt. Trong những trường hợp này, quản lý thành công đòi hỏi phải bổ sung thêm vitamin D, điều này thường cho phép giảm liều canxi bổ sung. (Xem ‘Hạ canxi máu mạn tính hoặc có triệu chứng nhẹ’ ở dưới.)
Hạ magnesi máu đồng thời – Để điều trị hạ canxi máu hiệu quả ở những người bệnh có thiếu hụt magnesi đi kèm, cần ưu tiên điều chỉnh tình trạng hạ magnesi máu trước. (Xem ‘Hạ magnesi máu đồng thời’ ở dưới.)
Tiếp cận theo từng bệnh lý
- Suy tuyến cận giáp – Hầu hết người bệnh suy tuyến cận giáp cần bổ sung canxi và vitamin D suốt đời (bảng 2). Đối với người bệnh suy tuyến cận giáp vĩnh viễn, mục tiêu điều trị là làm giảm triệu chứng, đưa và duy trì nồng độ canxi huyết thanh ở ngưỡng thấp của bình thường (ví dụ: 8,0 đến 8,5 mg/dL [2,0 đến 2,1 mmol/L]), và tránh tăng canxi niệu (duy trì canxi niệu 24 giờ dưới 300 mg). (Xem “Suy tuyến cận giáp”, mục ‘Quản lý’.)
- Thiếu hụt vitamin D – Người bệnh hạ canxi máu do thiếu hụt vitamin D cần được bù vitamin D. Đối với thiếu hụt do dinh dưỡng (nồng độ 25-hydroxyvitamin D [25(OH)D] < 12 ng/mL [30 nmol/L]), cần điều trị khởi đầu với 50.000 đơn vị quốc tế vitamin D2 hoặc D3 đường uống mỗi tuần một lần trong sáu đến tám tuần, sau đó duy trì 800 đến 1000 đơn vị quốc tế vitamin D3 mỗi ngày. (Xem “Thiếu hụt vitamin D ở người trưởng thành: Định nghĩa, biểu hiện lâm sàng và điều trị”.)