TÓM TẮT
Tinh hoàn co rút cần được thăm khám hàng năm và chuyển gửi đến bác sĩ tiết niệu nếu nghi ngờ tinh hoàn di chuyển lên vị trí tinh hoàn ẩn thực sự 83,108-110. Khác với tinh hoàn ẩn thực sự, tinh hoàn co rút không đi kèm với các biến chứng như tăng nguy cơ ung thư hóa hay giảm khả năng sinh sản.
Trong một nghiên cứu hồi cứu trên 204 tinh hoàn co rút ở 122 bé trai (tuổi trung bình 5,4 tuổi) được theo dõi hàng năm trong trung bình 2,8 năm, kết quả cho thấy khoảng một phần ba trở thành tinh hoàn ẩn (ẩn thứ phát hoặc ẩn thu nhận), một phần ba đã xuống bìu khi thăm khám, và một phần ba vẫn trong tình trạng co rút tại thời điểm theo dõi gần nhất 111. Một nghiên cứu khác gợi ý rằng nếu kết quả thăm khám tinh hoàn đối diện dưới gây mê vẫn cho thấy bất thường hoặc co rút tại thời điểm dự định phẫu thuật cố định tinh hoàn (orchidopexy) một bên, thì nên cân nhắc phẫu thuật cố định tinh hoàn hai bên do nguy cơ xuất hiện tinh hoàn ẩn không cùng thời điểm 112.
TÓM TẮT VÀ KHUYẾN CÁO
Trẻ sơ sinh có kiểu hình nam với tình trạng tinh hoàn không sờ thấy hai bên, tinh hoàn không sờ thấy một bên kèm theo lỗ tiểu thấp, hoặc nghi ngờ có sự phát triển khác biệt về giới tính (bao gồm cả tăng sản thượng thận bẩm sinh) cần được chuyển ngay đến hội đồng đa chuyên khoa để đánh giá và xử trí ban đầu cho các trường hợp có khả năng phát triển khác biệt về giới tính. (Xem “Đánh giá trẻ sơ sinh có cơ quan sinh dục ngoài bất thường (phát triển khác biệt về giới tính)” và “Xử trí trẻ sơ sinh có cơ quan sinh dục ngoài bất thường (phát triển khác biệt về giới tính)”.)
Chỉ định chuyển gửi đến bác sĩ tiết niệu nhi hoặc phẫu thuật viên nhi có thể bao gồm (xem ‘Chỉ định chuyển gửi’ ở dưới):
- Tinh hoàn ẩn bẩm sinh sờ thấy hoặc không sờ thấy (một bên hoặc hai bên); khuyến cáo chuyển gửi trong khoảng từ 4 đến 12 tháng tuổi
- Tinh hoàn di chuyển ngược lên ở bé trai sau giai đoạn nhũ nhi (bất cứ khi nào ghi nhận sự thay đổi khi thăm khám)
- Sờ thấy mô trong bìu nghi ngờ là tinh hoàn teo
- Khó phân biệt giữa tinh hoàn ẩn, tinh hoàn co rút hoặc tinh hoàn lạc chỗ (ở mọi lứa tuổi)
Hầu hết các trường hợp tinh hoàn ẩn lúc sinh sẽ hoàn tất quá trình xuống bìu trong 3 đến 4 tháng đầu đời. Hiếm khi có sự xuống bìu tự nhiên sau 4 tháng tuổi. Đối với những tinh hoàn vẫn còn ẩn, những thay đổi liên quan đến khả năng sinh sản có thể bắt đầu xảy ra trước 1 tuổi. (Xem ‘Diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)
Các biến chứng và di chứng của tinh hoàn ẩn bao gồm thoát vị bẹn, xoắn tinh hoàn, chấn thương tinh hoàn, giảm khả năng sinh sản và ung thư tinh hoàn. Mức độ nghiêm trọng của những biến chứng và di chứng này đòi hỏi việc chuyển gửi sớm để điều trị triệt để. (Xem ‘Biến chứng và di chứng’ ở dưới.)
Mục tiêu điều trị là đưa và cố định các tinh hoàn ẩn còn khả năng sống vào vị trí bình thường trong bìu, hoặc cắt bỏ các mảnh tinh hoàn không còn khả năng sống. Việc cố định trong bìu giúp giảm nguy cơ xoắn và chấn thương do va đập (đối với tinh hoàn nằm trong ống bẹn) và giúp việc thăm khám tinh hoàn dễ dàng hơn. Nếu được thực hiện đủ sớm, phẫu thuật điều chỉnh cũng có thể giảm nguy cơ vô sinh và ung thư tinh hoàn. (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Phẫu thuật điều trị tinh hoàn ẩn bẩm sinh được khuyến cáo thực hiện càng sớm càng tốt sau 4 tháng tuổi và chắc chắn phải hoàn tất trước khi trẻ lên 2 tuổi. Đối với trẻ có tình trạng tinh hoàn di chuyển ngược lên trong giai đoạn nhi đồng muộn hơn, phẫu thuật thường nên được thực hiện trong vòng 6 tháng kể từ khi phát hiện. (Xem ‘Thời điểm phẫu thuật’ ở dưới.)
Tinh hoàn co rút cần được thăm khám hàng năm và chuyển gửi đánh giá chuyên sâu nếu nghi ngờ tình trạng di chuyển ngược lên. Trong nhiều trường hợp, việc theo dõi này cần kéo dài cho đến tuổi dậy thì. (Xem ‘Xử trí tinh hoàn co rút’ ở dưới.)