TÓM TẮT
Giới thiệu – Xạ trị (RT) là một thành phần điều trị quan trọng trong quản lý nhiều bệnh ung thư phụ khoa. Do đó, việc hiểu rõ các tác dụng phụ tiềm tàng là rất cần thiết để quản lý bệnh nhân và cải thiện chất lượng sống sau điều trị. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Một số bệnh nhân ung thư phụ khoa có nguy cơ cao gặp độc tính liên quan đến xạ trị, bao gồm những người có bệnh mạch máu collagen đang hoạt động, bệnh viêm ruột (IBD) và các rối loạn mạch máu (bao gồm đái tháo đường và tăng huyết áp). (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Thời điểm xuất hiện độc tính – Các tác dụng phụ của xạ trị có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình điều trị hoặc thậm chí nhiều năm sau đó. (Xem ‘Thời điểm xuất hiện độc tính do xạ trị’ ở dưới.)
- Độc tính cấp tính: Xuất hiện trong hoặc ngay sau đợt điều trị.
- Độc tính bán cấp: Biểu hiện lần đầu từ 4 đến 12 tuần sau khi kết thúc xạ trị.
- Độc tính muộn: Xuất hiện sau 3 tháng.
Độc tính tiết niệu – sinh dục – Viêm bàng quang cấp do xạ trị là một biến chứng thường gặp trong xạ trị vùng chậu với liều thông thường, mặc dù tỷ lệ gặp phải rất khác nhau. Biến chứng này thường đi kèm với các triệu chứng kích thích đường tiểu (tiểu khó, tiểu nhiều lần, tiểu gấp và tiểu đêm) cùng tình trạng co thắt bàng quang. Nguyên nhân là do viêm và phù nề bàng quang do xạ trị, làm tổn thương sự toàn vẹn của biểu mô niệu. Nếu xảy ra trong quá trình xạ trị, các triệu chứng này thường tự hết trong vòng 1 đến 2 tuần sau khi kết thúc điều trị. (Xem ‘Viêm bàng quang do xạ trị cấp tính’ ở dưới.)
Độc tính tiết niệu – sinh dục muộn thường là kết quả của những thay đổi về biểu mô và vi mạch do xạ trị, dẫn đến thay đổi sinh lý bàng quang. Điều này có thể gây ra các triệu chứng đường tiết niệu dưới tương tự như giai đoạn cấp tính, chẳng hạn như tiểu gấp và tiểu nhiều lần, thường do tình trạng bàng quang tăng hoạt hoặc co rút. Khi bàng quang co rút nghiêm trọng, rối loạn chức năng bàng quang có thể dẫn đến tiểu không tự chủ do thôi thúc. Tuy nhiên, với liều xạ trị ngoài thường dùng cho ung thư phụ khoa (40 đến 50 Gy), khả năng xảy ra các tác dụng phụ nghiêm trọng kéo dài là thấp. (Xem ‘Các dấu hiệu và triệu chứng muộn’ ở dưới.)
Độc tính tiêu hóa – Ruột non rất nhạy cảm với các tác động sớm của xạ trị. Khi nằm trong trường chiếu xạ, tổn thương do tia xạ có thể biểu hiện cấp tính bằng buồn nôn, nôn và tiêu chảy. Việc điều trị tổn thương xạ trị cấp tính chủ yếu là điều trị triệu chứng. Sử dụng probiotics trong quá trình xạ trị có thể là một chiến lược dự phòng hữu ích. (Xem ‘Tổn thương xạ trị cấp tính’ ở dưới.)
Các triệu chứng của độc tính tiêu hóa muộn bao gồm tiêu chảy mãn tính, kém hấp thu, các đợt liệt ruột hoặc tắc ruột tái phát, và sự phát triển của các tổn thương giãn mao mạch niêm mạc hoặc loét. Những tiến bộ trong kỹ thuật xạ trị, bao gồm xạ trị điều biến cường độ (IMRT) và xạ trị áp sát (BT) dưới hướng dẫn hình ảnh, đã giúp giảm tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của độc tính tiêu hóa muộn. (Xem ‘Độc tính tiêu hóa muộn’ ở dưới.)
Độc tính tại âm đạo – Độc tính tại âm đạo thường gặp ở phụ nữ điều trị ung thư cổ tử cung và ung thư tử cung, khi đó bệnh nhân thường được chỉ định xạ trị vùng chậu hoặc xạ trị áp sát âm đạo. Tình trạng này có thể dẫn đến rối loạn chức năng tình dục và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. (Xem ‘Âm đạo’ ở dưới.)
Độc tính trên buồng trứng – Xạ trị buồng trứng có thể dẫn đến vô sinh hoặc mãn kinh sớm. Liều xạ cần thiết để tiêu diệt 50% số noãn bào còn lại được xác định là từ 2 đến 4 Gy 82. Vì những rủi ro này, đối với phụ nữ tiền mãn kinh và dưới 40 tuổi, phẫu thuật di chuyển buồng trứng qua nội soi thường được thực hiện trước khi tiến hành xạ trị vùng chậu. (Xem ‘Buồng trứng’ ở dưới.)
Phản ứng da – Phản ứng da cấp tính dao động từ đỏ da, đau rát đến bong vảy ẩm, và trong một số ít trường hợp là loét. Photon năng lượng cao (10 đến 18 MV) và việc sắp xếp đa trường chiếu thường được sử dụng trong xạ trị vùng chậu. Cả hai yếu tố này đều có tác dụng bảo vệ da khi phân bố liều xạ. Do đó, viêm da do xạ trị quan sát được trong điều trị ung thư phụ khoa thường ở mức độ nhẹ. Ngoại lệ chính là ung thư âm hộ, nơi các phản ứng da độ 3 thường gặp, hoặc trong bất kỳ trường hợp nào có bao gồm hạch bẹn trong vùng điều trị. (Xem ‘Da’ ở dưới.)