TÓM TẮT
Các loại phản ứng cấp tính – Phản ứng truyền máu cấp tính dao động từ mức độ gây khó chịu nhưng lành tính về mặt lâm sàng đến các phản ứng đe dọa tính mạng. Bản chất của phản ứng có thể không rõ ràng ngay lập tức, vì nhiều phản ứng, bao gồm cả những phản ứng nghiêm trọng nhất, bắt đầu bằng các triệu chứng không đặc hiệu như sốt hoặc ớn lạnh. Các loại phản ứng tiềm ẩn đã được liệt kê ở trên. (Xem ‘Các loại phản ứng truyền máu cấp tính’ ở dưới và ‘Tỷ lệ tử vong’ ở dưới.)
Tần suất – Tần suất xảy ra phản ứng dao động từ các phản ứng tương đối phổ biến, chẳng hạn như phản ứng dị ứng và phản ứng sốt không do tan máu (FNHTR), đến các biến chứng hiếm gặp bao gồm phản vệ, phản ứng truyền máu tan máu cấp (AHTR) do bất tương hợp ABO gây tử vong và nhiễm khuẩn huyết (hình 1). (Xem ‘Tần suất phản ứng’ ở dưới.)
Khi nào cần nghi ngờ – Khả năng xảy ra phản ứng truyền máu cấp tính nên được cân nhắc ở bất kỳ bệnh nhân nào xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng bất lợi trong quá trình truyền máu, hoặc trong vòng 24 giờ sau khi kết thúc truyền máu. Nhiều phản ứng nghiêm trọng nhất xảy ra trong vòng 15 phút đầu tiên sau khi truyền. (Xem ‘Khi nào cần nghi ngờ phản ứng truyền máu cấp tính’ ở dưới.)
Các hành động tức thì – Đối với bệnh nhân nghi ngờ có phản ứng truyền máu cấp tính (thuật toán 1) (xem ‘Các hành động tức thì (tất cả bệnh nhân)’ ở dưới):
- Ngừng truyền máu ngay lập tức
- Duy trì đường truyền tĩnh mạch
- Thông báo cho đơn vị truyền máu
- Xác nhận lại chế phẩm máu đúng
- Đánh giá lâm sàng
Đánh giá (tại giường) – Việc đánh giá bệnh nhân ban đầu và các khía cạnh liên quan trong bệnh sử được sử dụng để xác định phản ứng có khả năng xảy ra nhất (bảng 1).
- Sốt/ớn lạnh – Gợi ý AHTR, phản ứng nhiễm khuẩn do truyền máu, tổn thương phổi cấp liên quan đến truyền máu (TRALI) hoặc FNHTR. AHTR, nhiễm khuẩn huyết và TRALI có khả năng gây tử vong; FNHTR ít nghiêm trọng hơn nhưng về cơ bản là chẩn đoán loại trừ. Sốt cũng có thể liên quan đến bệnh lý nền của bệnh nhân. (Xem ‘Bệnh nhân sốt/ớn lạnh’ ở dưới.)
- Triệu chứng hô hấp – Đặc trưng cho TACO, TRALI và phản vệ (bảng 5). TACO và TRALI có thể khó phân biệt vì cả hai đều biểu hiện phù phổi (bảng 2). (Xem ‘Bệnh nhân suy hô hấp’ ở dưới.)
- Hạ huyết áp – Tình trạng tụt huyết áp tâm thu đáng kể (>30 mmHg) là đặc điểm điển hình của AHTR, TRALI và nhiễm khuẩn huyết; hạ huyết áp cũng có thể do xuất huyết hoặc giảm thể tích tuần hoàn thay vì do phản ứng truyền máu. Phản ứng hạ huyết áp do truyền máu cũng có thể là nguyên nhân, mặc dù rất hiếm gặp. (Xem ‘Bệnh nhân hạ huyết áp’ ở dưới và ‘Phản ứng hạ huyết áp do truyền máu’ ở dưới.)
Đánh giá (ngân hàng máu hoặc phòng xét nghiệm) – Các mẫu bệnh phẩm phục vụ đánh giá phản ứng truyền máu nghi ngờ cần kèm theo thông tin về tiền sử bệnh nhân và phản ứng. Ngân hàng máu hoặc phòng xét nghiệm bệnh viện sẽ thực hiện kiểm tra hành chính, làm lại xét nghiệm ABO, kiểm tra cảm quan tình trạng tan máu và nghiệm pháp kháng globulin trực tiếp (Coombs – DAT). Các xét nghiệm bổ sung và quản lý sơ bộ sẽ phụ thuộc vào loại phản ứng đang nghi ngờ. (Xem ‘Xét nghiệm cận lâm sàng ban đầu’ ở dưới và ‘Xét nghiệm và quản lý bổ sung’ ở dưới.)