Loạn nhịp thất: Tổng quan ở bệnh nhân suy tim và bệnh cơ tim

TÓM TẮT

Tổng quan – Các tình trạng loạn nhịp thất, bao gồm ngoại tâm thu thất (PVC), nhịp nhanh thất (VT) và rung thất (VF), thường gặp ở bệnh nhân suy tim (HF) và bệnh cơ tim, với tỷ lệ xuất hiện lên đến 95% ở nhóm đối tượng này. (Xem thêm ‘Các loại loạn nhịp’ ở dưới.)

Cơ chế bệnh sinh – Nhiều yếu tố có thể góp phần gây ra loạn nhịp thất ở bệnh nhân suy tim và bệnh cơ tim, bao gồm bệnh lý cấu trúc tim, các yếu tố cơ học, yếu tố thần kinh nội tiết, rối loạn điện giải, thiếu máu cơ tim và ảnh hưởng của thuốc điều trị. (Xem thêm ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Loại và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng (nếu có) sẽ thay đổi tùy thuộc vào loại loạn nhịp thất, thời gian kéo dài của cơn, cùng với tình trạng lâm sàng tổng thể và các bệnh đồng mắc quan trọng của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể ít hoặc không có triệu chứng khi gặp ngoại tâm thu thất hoặc các cơn nhịp nhanh thất không bền ngắn; tuy nhiên, có thể khởi phát ngất hoặc ngưng tim đột ngột do nhịp nhanh thất bền hoặc rung thất. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Đánh giá chẩn đoán – Điện tâm đồ (ECG) là một phần trong quy trình đánh giá tiêu chuẩn cho bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ có ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất hoặc rung thất. Việc đánh giá chẩn đoán ngoài ECG sẽ thay đổi tùy theo loại loạn nhịp cụ thể và các kết quả thăm dò trước đó của bệnh nhân; các xét nghiệm bổ sung có thể bao gồm một hoặc nhiều phương pháp sau: theo dõi ECG lưu động (Holter), nghiệm pháp gắng sức, siêu âm tim và thăm dò điện sinh lý tim xâm lấn. (Xem thêm ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)

Xử trí – Việc quản lý loạn nhịp thất ở bệnh nhân suy tim và bệnh cơ tim cần tiếp cận đa diện, bao gồm điều trị suy tim, kiểm soát loạn nhịp và cân nhắc đặt máy khử rung tim cấy ghép (ICD) để dự phòng tiên phát hoặc thứ phát đột tử do tim (SCD).

  • Điều trị suy tim – Liệu pháp tiêu chuẩn cho suy tim do rối loạn chức năng tâm thu bao gồm: thuốc chẹn beta; thuốc ức chế receptor angiotensin và neprilysin (ARNI), thuốc ức chế men chuyển (ACEI), hoặc thuốc chẹn receptor angiotensin II (ARB); và thuốc kháng aldosterone cho các bệnh nhân được chọn lọc. Digoxin và các thuốc tăng sức co bóp cơ tim khác đôi khi được sử dụng để kiểm soát triệu chứng, trong khi thuốc lợi tiểu được chỉ định cho các triệu chứng xung huyết. (Xem thêm ‘Điều trị suy tim’ ở dưới.)

  • Kiểm soát loạn nhịp – Xử trí ban đầu cho bệnh nhân nhịp nhanh thất bền phụ thuộc vào tình trạng huyết động của bệnh nhân (sơ đồ 1), trong đó những bệnh nhân không ổn định về huyết động cần được xử trí cấp cứu. Việc quản lý VT tiếp theo sẽ dựa trên biểu hiện ban đầu (ổn định hay không ổn định về huyết động) và phương pháp điều trị khởi đầu. Bệnh nhân có triệu chứng với nhịp nhanh thất không bền (NSVT) hoặc ngoại tâm thu thất thường được điều trị ban đầu bằng thuốc chẹn beta. (Xem thêm ‘Kiểm soát loạn nhịp’ ở dưới.)

  • Phòng ngừa đột tử do tim (SCD) – Những bệnh nhân đã được hồi sức sau ngưng tim đột ngột (do nhịp nhanh thất bền hoặc rung thất) là đối tượng phù hợp và thường nên được đặt ICD để dự phòng thứ phát SCD. Ngoài ra, nhiều bệnh nhân suy tim và bệnh cơ tim (có phân suất tống máu thất trái LVEF ≤ 35%) cũng là đối tượng chỉ định đặt ICD để dự phòng tiên phát SCD. (Xem “Phòng ngừa đột tử do tim ở bệnh nhân suy tim giảm LVEF”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here